Hoạt động của Bộ môn Khảo cổ học trong mùa điền dã 2011 - 2012

     Trong mùa điền dã 2011-2012, Bộ môn Khảo cổ học (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh) tiếp tục thực hiện các chương trình hợp tác điền dã và nghiên cứu với các Bảo tàng, Ban Quản lý Di tích – Danh thắng địa phương, xây dựng phương hướng đào tạo Đại học và Sau đại học (Cao học, Nghiên cứu sinh) và khai triển các đề tài nghiên cứu trọng điểm ĐHQG-HCM tập trung vào địa bàn các tỉnh Nam Bộ (Việt Nam)...



HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÔN KHẢO CỔ HỌC (ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM)
TRONG MÙA ĐIỀN DÃ 2011-2012 Ở MIỀN NAM

PGS.TS Phạm Đức Mạnh
(Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, ĐHKHXH&NV – ĐHQG-HCM)

     Trong mùa điền dã 2011-2012, Bộ môn Khảo cổ học (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh) tiếp tục thực hiện các chương trình hợp tác điền dã và nghiên cứu với các Bảo tàng, Ban Quản lý Di tích – Danh thắng địa phương, xây dựng phương hướng đào tạo Đại học và Sau đại học (Cao học, Nghiên cứu sinh) và khai triển các đề tài nghiên cứu trọng điểm ĐHQG-HCM tập trung vào địa bàn các tỉnh Nam Bộ (Việt Nam).

     Ở miền Đông Nam Bộ, chúng tôi tổ chức các đợt điều tra, đào thám sát một số di tích Khảo cổ học Tiền sử - Sơ sử trên cả hai miền thổ nhưỡng quan trọng: miền đồi gò đất đỏ bazan trẻ phong hóa và miền cận biển thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn, lấy các mẫu đất để phân tích bào tử phấn hoa, góp thêm tư liệu tìm hiểu thành phần thực vật, cấu trúc địa tầng, phác thảo cảnh quan thiên nhiên và cổ môi trường của cư dân miền cao Nam Bộ đương thời.

     Ở miền phát triển huyền vũ nham Xuân Lộc – Long Khánh – Cẩm Mỹ - Định Quán (Đồng Nai), chúng tôi tiến hành lấy hệ thống mẫu đất ở các hố đào khảo cổ học đặc trưng như Cầu Sắt (4 mẫu); Suối Chồn (5 mẫu); Hàng Gòn 7 (5 mẫu); Long Giao (1 mẫu). Ở miền địa hình thấp trũng của Nhơn Trạch (Đồng Nai), chúng tôi lấy thêm 5 mẫu thổ nhưỡng ở Gò Me (Vĩnh Thanh). Các mẫu đất được xử lý tại Viện Khoa học Địa chất & Khoáng sản và Th.S Nguyễn Thị Mai Hương (Viện Khảo cổ học) trực tiếp giám định bào tử và phấn hoa (Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Hồng Ân, Nguyễn Thị Mai Hương, 2012).

     Tại địa điểm khảo cổ học Hưng Thịnh (xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai), chúng tôi phối hợp với Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học (Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ) tiến hành đào thám sát 3 hố với tổng diện tích 10m² (2 hố 1,3 quy mô 2 x 2m = 4m², hố 2 quy mô 1 x 2m = 2m²) tại khu vườn của anh Nguyễn Thanh Phong, ngụ khu 3, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, cách suối Bí khoảng 30 – 40m (1). Trong thời gian đào thám sát, nhóm sinh viên đã tiến hành khảo sát xung quanh khu vực đào và đã thu lượm trên mặt đất được một sưu tập công cụ gồm 9 công cụ đá (3 bôn có vai, 5 đục và 1 dao gặt).

     Các chương trình điền dã, giám định thổ nhưỡng, thạch học, hóa học – quang phổ định lượng và cả phân tích nhiễu xạ tia X đối với gốm cổ, với đồ đồng thau, phân tích niên đại C14 .v.v… được chúng tôi thực hiện bài bản hơn để phục vụ cho đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh (hoàn tất tháng 4 năm 2012) và xây dựng chuyên khảo về: “Di tích Văn hóa Cự thạch Tiền sử - Sơ sử miền Đông Nam Bộ trong khung cảnh Việt Nam và Thế giới” sẽ xuất bản tới đây.

     Ở các thời kỳ lịch sử muộn hơn, vào tháng 2 năm 2012, chúng tôi đã phối hợp với Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Đồng Nai tiến hành điều tra khảo sát hiện trường của Dự án Chung cư Sonapart và sau đó đào thám sát lớn với 14 hố (tổng diện tích hơn 60m²) tại khu vực kế cận Thành cổ Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai). Kết quả khai đào phát hiện tầng văn hóa khảo cổ học có độ dày trung bình 90 – 140cm chứa các nguồn liệu gốm – sành – sứ .v.v… liên quan trực tiếp đến đời sống cư dân cổ nằm dưới Thành cổ Biên Hòa, dàn trải trong khung niên biểu khá lớn, ít nhất từ thời kỳ truyền thống văn hóa Óc Eo hiện hữu ở Biên Hòa và Đông Nam Bộ (thế kỷ VI-VII AD) cho đến các thời kỳ hậu Óc Eo, Trung và Cận đại.

     Những vết tích của gốm thời kỳ văn hóa Óc Eo cũng được chúng tôi ghi nhận trên vùng đất cận biển Đông Nam Bộ khi cùng ông Nguyễn Duyên Tâm (Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu) phúc tra địa điểm mà Bảo tàng từng thám sát và coi như “phế tích lò gốm của cư dân cổ Long Sơn” vào tháng 7 năm 2012. Đó là sưu tập mảnh sưu tầm ở Giồng Ông Trượng (thôn Ba Rạch Già) nằm cách di tích cư trú – mộ táng Giồng Lớn nổi tiếng khoảng 800m về phía Đông (Vũ Quốc Hiền – Trương Đắc Chiến – Lê Văn Chiến, 2008). Trong đó có những loại gốm đen Óc Eo điển hình dùng làm bình hay lọ có vành miệng dày bẻ ra; hoặc làm các đồ đựng nhỏ như nồi hình cầu, bát bồng với vành miệng vuốt thằng và khắc vạch tạo hình tam giác có gạch chấm ngắn bên trong đối đầu nhau viền quanh; các loại gốm gốm thô hoặc mịn màu xám, xám trắng hay nâu gạch làm bát hay mâm bồng, nồi vò có văn vạch trên nền chải, đặc biệt có cả các loại hình bình hay hũ miệng thẳng với vành miệng bẻ gập vào trong đặc trưng của Giồng Phệt và cả loại hình được gọi là “khay” đặc trưng của gốm Giồng Cá Vồ (Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu, Ngô Thế Phong, Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Lân Cường, 1998). Điều đáng lưu ý trong sưu tập gốm này là tất cả các loại bát hay mâm bồng đều được người thợ cổ sử khoan thủng 1-2 lỗ tròn nhỏ trên vành chân đế - kiểu khoan các vành miệng của đĩa gốm tùy táng trong các mộ chum vò vùng Xuân Lộc mà các học giả Pháp từng đoán là dùng để “treo” lên (?).

     Bộ môn Khảo cổ học (Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM) đã tham gia công tác giám định cổ vật do nhân dân phát hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh – thành ở Nam Bộ.

     Ở miền Tây Nam Bộ, các chương trình điền dã được triển khai suốt mùa 2011-2012 chủ yếu thực thi các đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh nhằm nghiên cứu “Các Trung tâm Tôn giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ” mà theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì các “trung tâm tôn giáo” có ở Óc Eo – Ba Thê (Gò Cây Thị, Gò Giồng Trôm, Nam Linh Sơn Tự); Gò Tháp (Gò Bà Chúa Xứ, Gò Tháp Mười, Gò Minh Sư); Bình Tả (Gò Đồn, Gò Xoài, Gò Năm Tước); Gò Thành (12 di tích). Theo đó, một số công trình liên quan đến đề tài này đang chuẩn bị xây dựng làm luận văn Cao học chuyên ngành Khảo cổ học như: “Hình tượng nữ trong văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo”; “Di tích Gò Tư Trâm (An Giang)”.

     Một số đề tài nghiên cứu khoa học khác ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ cũng cung ứng tư liệu cho các tham luận Hội thảo khoa học Quốc gia và Quốc tế như: “Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa: những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận” (Hà Nội, 2011); “Việt Nam và Trung Quốc: những quan hệ văn hóa, văn học trong lịch sử” (Vietnam and China: Historical Cultural and Literature Relations) (HCM City, 2011); “Khoa học Xã hội thời hội nhập” (Social Sciences in the Era of Intergration) (HCM City, 2012); “Côn Đảo 150 năm đấu tranh xây dựng và phát triển (1862-2012)” (Tp. Vũng Tàu, 2012); Các kỷ yếu - tạp chí chuyên ngành (Khảo cổ học) hay liên ngành (Khoa học Xã hội & Nhân văn; Phát triển Khoa học & Công nghệ; Nam Bộ đất & Người); hoặc nguồn liệu cho các luận văn Cao học và Nghiên cứu sinh đã và đang chuẩn bị bảo vệ ở Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG-HCM hoặc Học viện Khoa học Xã hội (Viện Khoa học Xã hội Quốc gia) như: “Lư hương cổ trong các ngôi miếu của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh”; “Miếu thờ của người Hoa ở Biên Hòa Đồng Nai – trường hợp Thất Phủ Cổ Miếu-Chùa Ông”; “Đời sống văn hóa của cư dân Cù Lao Phố (Biên Hòa – Đồng Nai)”; “Đồ đá trong di chỉ Vĩnh Yên (huyện Vạn Ninh – tỉnh Khánh Hòa)”; “Di tích Khảo cổ học Hòa Diêm (Khánh Hòa)”; “Hội quán của người Hoa ở Hội An (Quảng Nam)”; “Di tích Khảo cổ học thời Tiền sử và Sơ sử ở vùng đất ngập mặn miền Đông Nam Bộ (Việt Nam)” .v.v…

     Với riêng loại hình mộ hợp chất đặc thù của Nam Bộ, ngoài chương trình khai quật và di dời tái tạo kiến trúc mộ Cầu Xéo trong Dự án xây dựng đường cao tốc Long Thành (tỉnh Đồng Nai) vào cuối năm 2011 (Phạm Đức Mạnh – Nguyễn Hồng Ân, 2011); chúng tôi đã cùng các nhà khảo cổ học thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng; Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh và nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Văn Đường tiến hành khảo sát và nghiên cứu bước đầu quần thể kiến trúc mộ hợp chất trong khu quy hoạch xây dựng chung cư C30 ở Phường 14, Quận Tân Bình (Tp. Hồ Chí Minh) vào cuối tháng 5 năm 2012. Đây là các ngôi mộ vô chủ từ lâu nhưng còn các kiến trúc dương phần khá đẹp và độc đáo, với nhiều chi tiết kiến tạo bằng hợp chất, các tấm bia làm bằng đá xanh và đá trắng còn mang quốc hiệu “Đại Nam” hoặc “Hoàng Thanh” niên hiệu Đạo Quang mà chủ nhân thuộc về các dòng họ Nguyễn, Lâm, Quách có thể đồng đại với hai ngôi mộ Phú Thọ Hòa nằm gần đó mà chúng tôi từng khai quật từ năm 1996 (Phạm Đức Mạnh – Lê Xuân Diệm, 1996).

     Các chương trình điền dã và nghiên cứu hệ thống loại hình mộ hợp chất ở miền Tây được sinh viên chuyên ngành Khảo cổ học thực hiện để làm Khóa luận tốt nghiệp trong năm 2012 tập trung ở các “Quần thể di tích lăng mộ Hoàng gia Gò Công (Tiền Giang)” (Phan Thị Kim An, 2012) và ở “Lăng Mạc Cửu (Hà Tiên – Kiên Giang)” (Lâm Hồng Ngọc, 2012). Ngoài ra, chúng tôi cũng đệ trình một chương trình nghiên cứu hệ thống về “Mộ Hợp chất ở Nam Bộ” khởi sự từ mùa điền dã sau. Bộ môn Khảo cổ học cũng đề xuất dự án “Mở ngành đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học, mã số 62.22.60.01” (theo Quyết định số 1020/2010/QĐ-ĐHQG-ĐH&SĐH ngày 10/09/2010 của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) và rất cám ơn các chuyên gia đầu ngành của Viện Khảo cổ học đã giúp đỡ cho công tác đào tạo của Trường Đại học KHXH&NV-ĐHQG-HCM để góp phần củng cố đội ngũ cán bộ Khảo cổ học trình độ cao còn yếu và rất thiếu ở các tỉnh phía Nam Việt Nam trước mắt và dài lâu.



TÀI LIỆU DẪN

Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu, Ngô Thế Phong, Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Lân Cường, 1998. Khảo cổ học Tiền sử & Sơ sử ở Tp. Hồ Chí Minh, NXB Trẻ Tp.HCM.

Lâm Hồng Ngọc, 2012. Lăng Mạc Cửu (Hà Tiên – Kiên Giang) (Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khảo cổ học, khóa 2008-2012). Tư liệu Khoa Sử, ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM.

Phạm Đức Mạnh – Lê Xuân Diệm, 1996.Khai quật quần thể mộ hợp chất Phú Thọ Hòa (Thành phố Hồ Chí Minh) – Khảo cổ học, số 1:59-73.

Phạm Đức Mạnh – Nguyễn Hồng Ân, 2011. Mộ hợp chất Cầu Xéo (Long Thành – Đồng Nai) – Khảo cổ học, số 6:44-62.

Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Hồng Ân, Nguyễn Thị Mai Hương, 2012.Thảm thực vật Tiền sử - Sơ sử Đông Nam Bộ qua phân tích bào tử phấn hoa – Khảo cổ học, số 1:44-53.

Phan Thị Kim An, 2012. Quần thể di tích lăng mộ Hoàng gia Gò Công (Tiền Giang) (Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khảo cổ học, khóa 2008-2012). Tư liệu Khoa Sử, ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM.

Vũ Quốc Hiền – Trương Đắc Chiến – Lê Văn Chiến, 2008. Di tích Giồng Lớn (Bà Rịa-Vũng Tàu) qua 2 lần khai quật – Khảo cổ học, số 6:33-48.

(1) Tham gia Đoàn công tác có: TS Phạm Quang Sơn, TS Nguyễn Văn Long (Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ); Nguyễn Tuyết Trinh (Bảo tàng Đồng Nai); Th.S Võ Thị Ánh Tuyết (Bộ môn Khảo cổ học) cùng các sinh viên chuyên ban Khảo cổ học Khóa 2009-2013 (PĐM).


Bài gửi Thông báo Khảo cổ học năm 2012

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.