Bộ môn Khảo Cổ học tham dự các hoạt động học thuật của ngành Khảo cổ học Việt Nam

Bộ môn Khảo Cổ học tham dự “Đại hội lần thứ 21 của Hiệp hội Tiền sử Ấn Độ - Thái Bình Dương” và “Hội nghị Thông báo Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 53 - năm 2018” tại thành phố Huế

Từ ngày 23 – 30/9/2018, tại thành phố Huế đã diễn ra hai sự kiện quan trọng của ngành Khảo cổ học Việt Nam: "Đại hội lần thứ 21 của Hiệp hội Tiền sử Ấn Độ - Thái Bình Dương (Indo-Pacific Prehistory Association - IPPA)" diễn ra từ ngày 23 – 28/9 và “Hội nghị Thông báo Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 53 - năm 2018” từ 29/9 đến 30/9 do Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp cùng với Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế (Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế) đồng tổ chức tại thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế). Các cán bộ giảng viên Bộ môn Khảo cổ học (Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã tích cực tham dự các hoạt động khoa học - học thuật đầy ý nghĩa  này.

Đại hội IPPA lần thứ 21 đã thu hút sự tham gia của hơn 700 nhà nghiên cứu đến từ 35 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo PGS.TS Nguyễn Giang Hải (Viện trưởng Viện Khảo Cổ học Việt Nam) cho biết, đây là sự kiện khoa học lớn nhất và quan trọng nhất của giới khảo cổ học trên toàn thế giới, năm nay Hội nghị tập trung các báo cáo về những địa điểm xưa nhất của con người sống trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương; các phương pháp lý thuyết mới và vấn đề kỹ thuật cao trong nghiên cứu thực địa cũng như phân tích tại phòng thí nghiệm; các vấn đề trong bảo vệ di sản văn hóa, trong đó nhấn mạnh những cách tiếp cận sáng tạo chiến lược giáo dục và khuyến khích cộng đồng trong bảo tồn di sản.

 

Khai mạc Hội nghị Thông báo Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 53 - năm 2018 tại thành phố Huế

(Ảnh Chiến Thắng)

Hội nghị Thông báo những phát hiện mới về Khảo cổ học (NPHMVKCH) là một hoạt động khoa học hàng năm rất quan trọng của ngành khảo cổ học. Thông qua Hội nghị Thông báo, các những nghiên cứu về những phát hiện mới của ngành khảo cổ học trong cả nước đến với cộng đồng; đồng thời, vừa tuyên truyền giới thiệu về những vấn đề khoa học mới cho ngành khảo cổ học, vừa tạo cơ hội cho các nhà nghiên cứu cùng những người quan tâm trong và ngoài nước đến hoạt động khảo cổ được tham gia. Phát biểu khai mạc Hội nghị, GS.TS Phạm Văn Đức - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết ý nghĩa của Hội nghị là diễn đàn khoa học để các nhà khoa học chia sẻ các kết quả nghiên cứu, đồng thời là cơ hội để các nhà khoa học, nhất là nhà khoa học trẻ tiếp cận, học hỏi các thế hệ đi trước nhằm hoàn thiện năng lực nghiên cứu khoa học của mình.

Theo báo cáo hoạt động khảo cổ học trong năm của Ban Tổ chức do PGS.TS Bùi Văn Liêm-Phó Viện trưởng Viện Khảo Cổ học cho biết, Hội nghị năm nay đã nhận được trên 356 bài viết tập trung từ  những phát hiện mới về di tích, di vật đến những nghiên cứu chuyên sâu về nhiều vấn đề xuyên suốt giai đoạn thời tiền sử đến lịch sử trên mọi miền đất nước từ cuối năm 2017 đến giữa năm 2018. Những bài nghiên cứu trong chương trình Hội nghị được phân bổ báo cáo tại 4 tiểu ban: Khảo cổ học Tiền sử (115 bài), Khảo cổ học Lịch sử (184 bài), Khảo cổ học Champa – Óc Eo (41 bài), và Khảo cổ học Dưới nước (10 bài ) cùng 6 bài viết về các hoạt động chung của ngành.

Khảo cổ học Tiền sử có 115 bài tham luận tập trung vào 7 cuộc khai quật, thám sát các di tích Tiền sử, trong đó chủ yếu là các cuộc khai quật ở khu vực Tây Nguyên (Khai quật mở rộng nhóm di tích Rộc Tưng: Rộc Tưng 1, 4, 7 và thám sát Rộc Tưng 6 và 8 tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai; khai quật các di tích hang C6’ và hang C6-1 nhằm bổ sung tư liệu về các hoạt động của con người trong các hang động núi lửa Krông Nô, tỉnh Đắc Nông; khảo sát và thám sát tại di tích Đắc Sơn, tỉnh Đắk Nông; phát hiện di tích Đá Mới Buôn Hằng, tỉnh Đắk Lắk,...), phát hiện di tích thời Đá Mới ở hang Pù Chùa (tỉnh Tuyên Quang); phát hiện di tích tiền sử Hang Ốc, hang Đồng Hang (tỉnh Lạng Sơn); phát hiện ngôi mộ thời Đông Sơn ở tỉnh Sơn La,... Đặc biệt, những kết quả nghiên cứu mới về các di tích tại nhóm di tích Rộc Tưng cho thấy đây là di tích di chỉ cư trú có niên đại (qua phân tích đồng vị phóng xạ Kali Argon các mẫu tectit) là 782.000 ±20.000 năm cách ngày nay (ở địa điểm Rộc Tưng 1) là 806.000 ±22.000 năm cách ngày nay (ở địa điểm Gò Đá). Đây là niên đại ghi nhận dấu vết của con người cổ xưa nhất (Người đứng thẳng - Homo Erectus) ở Việt Nam. Tất cả di tích và di vật của hố khai quật Rộc Tưng 1 đã được bảo lưu tại chỗ trong nhà mái che và là điểm tham quan, nghiên cứu duy nhất hiện nay về khảo cổ học Sơ kỳ Đá cũ ở Việt Nam. Trong thời gian tới, Viện Khảo cổ học (Việt Nam) sẽ tiếp tục hợp tác nghiên cứu với các chuyên gia khảo cổ đến từ Viện Khảo cổ học - Dân tộc học Novosibirsk (Liên bang Nga) để phát huy giá trị khoa học của những phát hiện về Sơ kỳ đồ Đá cũ tại thị xã An Khê.

Cũng tại khu vực Tây Nguyên, tại tỉnh Đắk Nông, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ đã tiến hành khai quật các di chỉ hang C6’ và hang C6-1 nhằm bổ sung tư liệu về hoạt động của con người trong các hang động núi lửa Krông Nô. Kết quả khai quật cho thấy hang C6’ và hang C6-1 là di tích di chỉ cư trú-mộ táng của cư dân Tiền sử, diễn ra liên tục từ 7.000 năm đến 4.500 năm cách ngày nay trong khoảng từ trung kỳ Đá Mới đến hậu kỳ Đá Mới và tới sơ kỳ Kim khí.

Khảo cổ học Lịch sử với các bài tham luận về kết quả các cuộc thám sát, khai quật như: Khai quật di tích thành cổ Luy Lâu (tỉnh Bắc Ninh) nhằm xác định ngoại hào thành Nội vào thế kỷ III - II trước Công nguyên; khai quật khu vực phía đông bắc di tích nền điện Kính Thiên (Hà Nội); khai quật di tích Miếu Tiên Cô và Đền Tam Linh (tỉnh Bắc Giang); khai quật khu vực xung quanh đền An Sinh, am tháp Ngọa Vân, đỉnh núi Bàn Cờ Tiên, di tích Đá Chồng (tỉnh Quảng Ninh); thám sát khai quật di tích Hải Vân Quan (tỉnh Thừ Thiên Huế);…


Giảng viên Bộ môn Khảo Cổ học-Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHCM, tham dự tại Hội nghị

(Ảnh Nguyễn Sự)

Nổi bật nhất là công tác khai quật khu vực phía đông bắc di tích nền điện Kính Thiên (Hoàng thành Thăng Long) và phía đông nam khu vực hành cung thời Nguyễn đã cho thấy các dấu tích kiến trúc xuất lộ với tầng văn hóa diễn biến phức tạp, các di tích chồng xếp, cắt phá nhau, trong đó đáng chú ý là các dấu tích kiến trúc thời Trần được phát hiện có dải nền trang trí hoa chanh lớn nhất từ trước tới nay.

Khảo cổ học Champa – Óc Eo với các bài viết về việc khai quật các di tích như: di tích Ruộng Đồng Cao (Quảng Nam); đền tháp Phong Lệ (Thành phố Đà Nẵng); tháp Chà Rây, di chỉ sản xuất đồ gốm Champa Gò Cây Me (tỉnh Bình Định); di tích kiến trúc cổ An Phong (tỉnh Bến Tre),.. Thêm đó là các báo cáo về phát hiện mới các di tích và di vật như: di tích Gò Lương Phi, Gò Cây Cầy,..

Khảo cổ học Dưới nước với 10 bài viết về các cuộc thám sát ở di tích Đồng Chổi (tỉnh Quảng Ninh), các phát hiện trong hai lần khai quật tại di tích Bãi Cọc (tỉnh Hải Dương), Đầm Lải, Đầm Hà (tỉnh Quảng Ninh), Bãi Làng (tỉnh Quảng Nam), phát hiện hiện vật nghi tàu đắm tại Lăng Cô (Huế), men gốm ngọc thời Nguyên trong tàu cổ ở Bình Châu (Quảng Ngãi),…

Ghi nhận đặc biệt tại tỉnh Quảng Nam qua công tác khai quật di tích Bãi Làng (Cù Lao Chàm) cho thấy Bãi Làng là một khu cư trú của người Champa cổ với di vật chủ yếu gồm các loại hình vật dụng thường ngày như nồi, bát, cốc, bình, hạt chuỗi. Ngoài ra, những sản phẩm mang đặc trưng của con đường buôn bán trên Biển Đông như thủy tinh Islam, hạt chuỗi indopacific, gốm Đường,… minh chứng Bãi Làng là một thương cảng trên con đường buôn bán từ Đông Bắc Á - Đông Nam Á - Tây Á vào thế kỷ 9 – 10,...


PGS.TS Nguyễn Giang Hải – Viện trưởng Viện Khảo cổ học báo cáo tại Hội nghị

(Ảnh Chiến Thắng)

Thông qua các báo cáo tại hội nghị mà các đại biểu đã đưa ra về những phát hiện khảo cổ học mới, các đại biểu cùng nhau thảo luận, chia sẻ kết quả khai quật, đồng thời bổ sung những tư liệu mới, góp phần vào công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Tham dự “Hội nghị thông báo Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 53 - năm 2018” các giảng viên Bộ môn Khảo cổ học đã đưa đến hội nghị các kết quả nghiên cứu mới về những hoạt động khảo cổ học cùng phối hợp với các địa phương trong năm. Những nghiên cứu mới này tập trung báo cáo tại các tiểu ban Khảo cổ học Tiền sử, Khảo cổ học Lịch sử và Khảo cổ học Óc Eo.

Liên quan tới khảo cổ học Tiền sử, bài nghiên cứu “Phát hiện di vật khảo cổ tại khu vực Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh” (TS. Nguyễn Thị Hậu và sinh viên KCH K.40-Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM) cho biết, vào tháng 6/2018 trong quá trình trùng tu Tòa án nhân dân TPHCM (số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), kiến trúc sư Cao Thành Nghiệp (phụ trách công trình) đã nhặt được một số mảnh gốm và 01 chiếc rìu đá trong phần đất lấp lấy lên từ đường rãnh dài khoảng 30m, sâu khoảng 0.6m rộng khoảng 0.4m để đặt ống cống thoát nước dọc theo hàng rào phía đường Nguyễn Trung Trực. Sau đó, đoàn nghiên cứu do TS. Nguyễn Thị Hậu đã thu nhặt được các hiện vật công cụ đồ đá (12 hiện vật, trong đó có 03 rìu có vai, 01 rìu tứ giác, 01 dao đá,…), gần 3000 mảnh đồ gốm có niên đại từ tiền sử (2.548 mảnh), gốm Óc Eo (67 mảnh) và hậu Óc Eo (369 mảnh), cùng với các mảnh gốm thời kỳ Bến Nghé. Báo cáo nhấn mạnh rằng, các hiện vật tiền sử phát hiện tại đây gần gũi về chất liệu và loại  hình với các di tích Gò Sao và Rỏng Bàng có niên đại tương đương giai đoạn Bến Đò (giai đoạn sớm nhất của vùng đất Sài Gòn) khoảng 3000 năm cách ngày nay; ở đồ gốm Óc Eo và hậu Óc Eo tuy rất ít nhưng không có gì khác biệt với những hiện vật đã tìm thấy tại vùng đất Sài Gòn trước đây. Báo cáo cho rằng nơi đây còn khả năng phát hiện di tích khảo cổ học qua nhiều thời kỳ: từ thời tiền sử - Óc Eo - hậu Óc Eo - đến khảo cổ học đô thị thuộc thời kỳ Bến Nghé và đô thị Sài Gòn. Phát hiện các hiện vật khảo cổ này tiếp tục ghi nhận các đợt phát hiện trước đó vào cuối thế kỷ XIX khi xây dựng các công trình tại khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.[1]

Các nghiên cứu về di sản văn hóa trên đất Bến Tre là một trong những chương trình phối hợp nghiên cứu giữa Bảo tàng tỉnh Bến Tre và Bộ môn Khảo cổ học (do PGS.TS Phạm Đức Mạnh, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM làm Trưởng đoàn), và đây cũng đã tập trung nhiều bài viết được các giảng viên của Bộ môn đưa đến Hội nghị.


PGS.TS Phạm Đức Mạnh -Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG-HCM,

báo cáo khai quật di tích kiến trúc cổ An Phong (tỉnh Bến Tre), tháng 4/2018

(Ảnh: Tư liệu đoàn khai quật An Phong)

Bài nghiên cứu “Khai quật di tích kiến trúc cổ An Phong (huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) năm 2017” (PGS.TS Phạm Đức Mạnh, Th.S Nguyễn Chiến Thắng, Th.S Đỗ Ngọc Chiến - Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM) khẳng định việc phát hiện di tích kiến trúc cổ An Phong vừa được khám phá chính là “Di chỉ Khảo cổ học Lịch sử” có khả năng cung ứng cho chúng ta nhiều tài liệu “phục sử” quý báu trong giai đoạn văn hóa Óc Eo  (thế kỷ I-VII) ở chính trên mảnh đất Bến Tre nói riêng và cả Nam Bộ nói chung. Đặc biệt là diễn trình phát triển của cư dân cổ Bến Tre từ thời kỳ Tiền sử với những chứng tích văn hóa Giồng Nổi tiến vào thời đại văn minh mà di tích An Phong chứa đựng những minh chứng khoa học vững chắc về người cổ An Phong trong giai đoạn văn hoá Óc Eo – hậu Óc Eo.[2]

Ở cách tiếp cận nghiên cứu về di vật, bài nghiên cứu “Phát hiện mới về các hiện vật đá thời cổ sử trên đất Bến Tre” (Th.S Nguyễn Chiến Thắng - Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, Cao Thị Thái Vân, Lương Thị Nga Em - Bảo tàng tỉnh Bến Tre) khẳng định thêm các hiện vật đá (Bệ tượng Trà Nồng, thế kỷ VII-VIII; Trụ đá Trà Nồng, thế kỷ VIII-XIX; Linga Phú Hào, thế kỷ VII-VIII) được phát hiện trên đất Bến Tre từ trước đến nay là những hiện vật phục vụ xây dựng kiến trúc và điêu khắc tượng thờ liên quan đến sinh hoạt tôn giáo gắn liền với Hindu giáo hay Phật giáo thời cổ đại của người cổ trên đất Bến Tre xưa.[3]

Ở một nghiên cứu khác về “Kết quả phân tích bào tử phấn hoa qua khai quật di tích kiến trúc cổ An Phong” (TS. Nguyễn Thị Mai Hương - Viện Khảo Cổ học, Th.S Phạm Thị Ngọc Thảo -Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, Huỳnh Anh Tú - Bảo tàng tỉnh Bến Tre), cho thấy trầm tích bào tử phấn hoa tại di tích cổ An Phong bảo lưu một lượng nghèo hạt phấn và bào tử, và về cơ bản thành phần thực vật ở An Phong chủ yếu là cây nhiệt đới với thành phần phấn hoa cây thân thảo chiếm 73%, cây gỗ và cây bụi chiếm 18% và dương xỉ 9%. Từ kết quả này, đưa đến tư liệu khoa học về môi trường cổ tại khu vực An Phong  thời bấy giờ có khung cảnh khá quang đãng và không có nhiều cây gỗ.[4]

 

Th.S Nguyễn Chiến Thắng-Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG-HCM, thay mặt đoàn khai quật nghiên cứu kiến trúc cổ An Phong trình bày tham luận tại Hội nghị thông báo

(Ảnh Nguyễn Sự)

Cuộc khai quật và nghiên cứu kiến trúc cổ An Phong được Hội nghị đánh giá là một trong những hoạt động chính ở lĩnh vực Khảo cổ học Óc Eo. Trong Báo cáo hoạt động của ngành Khảo cổ học năm 2018 do PGS.TS Bùi Văn Liêm (Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học) trình bày đã nhấn mạnh: Cuộc khai quật di tích kiến trúc cổ An Phong (tỉnh Bến Tre) đã làm rõ một phần nền móng kiến trúc đài điện Hindu giáo; các hiện vật tìm thấy trong hố khai quật, thám sát và ở các vị trí xuất lộ bề mặt cho thấy sự liên quan trực tiếp đến đời sống cư dân cổ, dàn trải trong khung niên biểu từ thời kỳ văn hóa Óc Eo cho đến thời kỳ văn hóa hậu Óc Eo.

Một nghiên cứu về tiền trong văn hóa Óc Eo phát hiện được ở Óc Eo và Đá Nổi từ thập niên 1980 của ThS. Nguyễn Thị Hà (Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG-HCM) cùng với TS. Lâm Quang Láng, ThS. Nguyễn Hữu Giềng là các cán bộ của Ban Quản lý di tích Óc Eo tỉnh An Giang cho thấy thêm vai trò của buôn bán tầm quốc tế ở thương cảng Óc Eo xưa.

Ở lĩnh vực di sản Khảo cổ học Lịch sử thời trung và cận đại, tập trung các bài viết về kiến trúc mộ táng, kiến trúc Hội quán và kiến trúc Chùa.

Bài viết “Di tích mộ và tấm bia hộp quan Thái bảo Bình Lạc hầu Trịnh Duy Hiếu (huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)” (PGS.TS Phạm Đức Mạnh, ThS. Nguyễn Chiến Thắng - Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, Trịnh Duy Tuân - Hội Văn hoá Dân gian tỉnh Thanh Hoá) các tác giả đã đưa đến một loại hình di vật bia mộ “hiếm thấy” – bia hộp gắn với kiến trúc mộ công hầu xưa.  Nghiên cứu cũng khẳng định các tư liệu minh văn trên bia mộ này là sử liệu có giá trị cho biết về xuất thân, hành trạng và công trạng cũng như nơi an nghỉ của người được an táng - quan Thái bảo Bình Lạc hầu Trịnh Duy Hiếu; đồng thời đây cũng là một tư liệu hiếm liên quan tới Trạng Nguyên Lương Thế Vinh, cho thấy mối quan hệ bằng hữu giữa hai nhân vật này. Nghiên cứu nhấn mạnh, với niên đại tấm bia được khắc vào năm 1484 cho thấy đây là một trong những tấm bia thuộc loại hình bia hộp chôn dưới đất có sớm trong triều đại quân chủ Việt Nam xưa, góp phần tìm hiểu sâu về loại hình di tích mộ táng thế kỷ XV trong lịch sử, cũng như cung cấp một di sản có giá trị quan trọng về một nhân vật lịch sử gắn với triều đại vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497).[5]

Cũng liên quan tới mộ táng của quý tộc xưa, nhưng ở vùng đất phương Nam của Tổ quốc, bài nghiên cứu “Phát hiện mới về hai kiến trúc mộ hợp chất tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre” (Th.S Nguyễn Chiến Thắng-Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, Th.S Lê Thị Kim Ngọc - Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre, Nguyễn Sự - Bảo tàng tỉnh Bến Tre) cho thấy việc phát hiện mới 2 kiến trúc mộ cổ tại ấp Tích Khánh, xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, niên đại xây dựng trong khoảng từ đầu đến giữa thế kỷ XIX đã bổ sung thông tin về hệ thống di sản mộ cổ đã được ghi nhận và nghiên cứu ở các huyện Chợ Lách, Giồng Trôm, và Ba Tri với hơn 25 cụm di sản mộ cổ gắn với các nhân vật có vai trò trong lịch sử từ thế kỷ XVII đến đầu XX trên đất Bến Tre xưa.[6]

 

Ba bia đá gắn trên tường bên tả Thư viện, nằm ở phía tây của Tổ đình Chúc Thánh, thành phố Hội An

(Ảnh Võ Thị Ánh Tuyết, 2018)

Nghiên cứu về Hội quán, bài viết “Đặc điểm kiến trúc cổ Hội quán Trung Hoa (số 64 đường Trần Phú, phường Minh An, thành phố Hội An – Quảng Nam)” (ThS. Võ Thị Ánh Tuyết-Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM) cho biết Hội quán Trung Hoa (còn gọi là Hội quán Ngũ Bang,  Dương Thương hội quán) là hội quán chung của người Hoa thuộc 5 bang ở Hội An (tỉnh Quảng Nam) có niên đại xây dựng dựa vào di tích, di vật ở đầu thế kỷ XVIII và được tái thiết vào năm 1928. Đối tượng được thờ cúng chính của Hội quán Trung Hoa là Thiên Hậu, ngoài ra còn có Thần Tài, Quan Thế Âm Bồ Tát, Tiền hiền, bang trưởng, bang phó, liệt sĩ. Bài viết cho biết thêm, Hội quán Trung Hoa ra đời đã khẳng định sự có mặt và định cư với số lượng lớn người Hoa ở Hội An, gồm nhiều cộng đồng người, đặc biệt là các thương nhân có hoạt động kinh tế vững mạnh, có mối liên hệ mật thiết qua sự thành lập Hội quán Trung Hoa chung cho 5 bang gắn với sự phát triển mạnh mẽ của đô thị - thương cảng Hội An.[7]

Mặt trước tiền điện, Phương đình Hội quán Trung Hoa ở Hội An

(Ảnh Võ Thị Ánh Tuyết, 2017)

Cũng trên đất Hội An bài nghiên cứu về “Tấm bia đá ghi niên đại xây dựng và trùng tu chùa Chúc Thánh (Hội An – Quảng Nam)” (ThS. Võ Thị Ánh Tuyết-Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM) cho biết ngôi chùa Chúc Thánh có tên dân gian là Chùa Khoai, tên chữ là “Chúc Thánh tự”, tọa lạc tại số 104 đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tác giả căn cứ vào nội dung chữ Hán trên văn bia có thể khẳng định bia được lập năm 1915. Văn bia cho biết chùa Chúc Thánh có lịch sử hơn 300 năm, do Tổ sư Minh Hải xây dựng vào năm 1684; sau đó chùa trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm: năm Ất Tỵ (1845), năm Kỷ Dậu (1849), năm Nhâm Thìn (1892), năm Giáp Ngọ (1894), năm Tân Hợi (1911). Ngoài ra các tư liệu khác còn ghi nhận chùa còn có những đợt trùng tu sau này vào năm Kỷ Tỵ (1929) và năm Giáp Ngọ (1954). Chùa Chúc Thánh chính là Tổ đình của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh và đây là nơi dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh được hình thành và phát triển khắp miền Trung, miền Nam nước ta và cả nước ngoài. Nghiên cứu khẳng định, các kiến trúc cổ thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Hội An, mà tiêu biểu là Tổ đình Chúc Thánh, đã góp phần minh chứng cho vị trí quan trọng của Hội An trong quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Đàng Trong trước đây và Phật giáo Việt Nam sau này.[8]

 

 

Các em học sinh Trường THCS Tạ Thị Kiều, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham quan và tham gia nghiên cứu di sản địa phương

(Ảnh Tư liệu Đoàn khai quật An Phong)

Các nghiên cứu khoa học mà các cán bộ giảng viên Bộ môn Khảo Cổ học đã cùng các đồng nghiệp trên khắp cả nước đem đến Hội nghị đã bổ sung những tư liệu rất mới và quý hiếm trong việc đi sâu tìm hiểu nghiên cứu diễn trình hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam, sự xuất hiện và hoàn thiện con người Việt Nam; đồng thời, góp phần xứng đáng vào việc nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa Việt Nam. Những thông báo khoa học này cùng chung một mục tiêu nhằm nghiên cứu về quá trình dựng nước và giữ nước của các bậc tiền nhân chính qua những tư liệu vật thật chân xác đưa ra từ các nhà khoa học chính làm minh chứng cho việc khẳng định và bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, và cũng qua đó góp phần tích cực trong việc nghiên cứu, bảo tồn, phát huy các giá trị lịch sử văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Như cách nói của PGS.TS Phạm Đức Mạnh – Giảng viên cao cấp (Trưởng nhóm Nghiên cứu Lịch sử văn hóa Nam Bộ - ĐHQG-HCM, nguyên Trưởng Bộ môn Khảo Cổ học của Nhà Trường) trên giảng đường thực địa cũng như trên ghế nhà trường với nhiều thế hệ nhà khảo cổ học tiếp bước, thì các nghiên cứu nhằm sưu tập các nguồn liệu hoàn chỉnh và khoa học hơn về cả địa tầng lẫn tiềm năng di sản, cũng như qua phúc tra cả các phế tích – những dấu hiệu vật thể ghi nhận sự hiện diện của các quần thể di sản lịch sử văn hóa của tiền nhân người Việt Nam – những đối tượng nghiên cứu Khảo cổ học – Bảo tàng học quan trọng trên Đất Mẹ hôm nay có giá trị giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ tình yêu quê hương đất nước và tri ân tiền nhân đã có công mở nước, phục vụ cho Sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc và cả Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội – văn hóa – du lịch trước mắt và dài lâu. Hay như cách nói của GS. Hà Văn Tấn (nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam), thì những bài nghiên cứu trên chính là để“Quá khứ đẹp đẽ của lịch sử dân tộc đang hiện dần ra, rõ nét thêm dưới lưỡi cuốc của các nhà khảo cổ học đang ngày đêm cần mẫn trên các công trường khai quật và trên những nẻo đường điền dã”[9].

Nguyễn Chiến Thắng (tổng hợp)



[1] Nguyễn Thị Hậu và sinh viên KCH K.40, 2018. Phát hiện di vật khảo cổ tại khu vực Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[2] Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Chiến Thắng, Đỗ Ngọc Chiến, 2018. Khai quật di tích kiến trúc cổ An Phong (huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) năm 2017. Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[3] Nguyễn Chiến Thắng, Cao Thị Thái Vân, Lương Thị Nga Em, 2018. Phát hiện mới về các hiện vật đá thời cổ sử trên đất Bến Tre. Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[4] Nguyễn Thị Mai Hương, Phạm Thị Ngọc Thảo, Huỳnh Anh Tú, 2018. Kết quả phân tích bào tử phấn hoa qua khai quật di tích kiến trúc cổ An Phong. Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[5] Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Chiến Thắng, Trịnh Duy Tuân, 2018. Di tích mộ và tấm bia hộp quan Thái bảo Bình Lạc hầu Trịnh Duy Hiếu (huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[6] Nguyễn Chiến Thắng, Lê Thị Kim Ngọc, Nguyễn Sự , 2018. Phát hiện mới về hai kiến trúc mộ hợp chất tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[7] Võ Thị Ánh Tuyết , 2018. Đặc điểm kiến trúc cổ Hội quán Trung Hoa (số 64 đường Trần Phú, phường Minh An, thành phố Hội An – Quảng Nam). Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[8] Võ Thị Ánh Tuyết , 2018. Tấm bia đá ghi niên đại xây dựng và trùng tu chùa Chúc Thánh (Hội An – Quảng Nam). Bài nghiên cứu tại Hội nghị NPHMVKCH 2018, tại Huế.

[9] Hà Văn Tấn, (chủ biên), 2002. Khảo cổ học Việt Nam (Tập 3: Khảo cổ học Lịch sử). KHXH: Hà Nội. tr.406.


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.