Kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27-7): Từ tuổi thơ bận rộn đến những dữ kiện “vĩ đại bậc nhất” trong lịch sử giành và gìn giữ cho bằng được độc lập-tự do của dân tộc để lưu truyền cho hôm nay

Nhân kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27-7), Website Khoa Lịch Sử xin giới thiệu tới bạn đọc chuỗi bài về những ký ức của những giảng viên đang công tác tại Khoa đã “một thời khoác lên mình tấm áo Bộ đội Cụ Hồ”.

 

Bài 1: PGS.TS Phạm Đức Mạnh, từ tuổi thơ bận rộn đến những dữ kiện “vĩ đại bậc nhất” trong lịch sử giành và gìn giữ cho bằng được độc lập-tự do của dân tộc để lưu truyền cho hôm nay

 

Đọc lại dòng nhật ký bỏ quên

Chợt thấy lòng bừng lên tiếc nhớ

Những giấc mơ xưa tưởng thời gian lấp bỏ

Vẫn âm thầm về ta hôm nay...


Vừa đọc lại vần thơ “Những dòng nhật ký bỏ quên” năm nào mà mình viết về những hồi ức cũ, PGS.TS Phạm Đức Mạnh_ Giảng viên cao cấp, nguyên Trưởng Bộ môn Khảo cổ học của Khoa Lịch Sử chia sẻ tiếp: “Đời người có nhiều khoảnh khắc bận rộn và không ít khoảnh khắc khó quên. Tuổi mười tám đôi mươi của riêng tôi cũng thế, cũng bận rộn và khó quên trước tiên vì nó gắn liền với bao biến động lớn lao của lịch sử Việt Nam hiện đại từ Mùa hè đỏ lửa 1972 đến Mùa xuân đại thắng 1975”.


Lần giở những ký ức tâm sự cho biết về Thầy được sinh ra tại Hà Nội vào ngày 01 tháng 02 năm 1954 trong hoàn cảnh chiến tranh đầy gian khó, lại là con trai út trong một gia đình có 6 anh chị em, mặc dù vậy, Thầy Phạm Đức Mạnh vẫn được bố mẹ cố gắng tạo điều kiện cho ăn học tử tế. Ngay từ khi là học trò cấp III trường PTTH В Hà Nội, Thầy đã thể hiện tình yêu văn chương, cũng như yêu thích môn Lịch Sử và một tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn, phóng khoáng. Như có người từng nhận xét, “Có lẽ vì thế mà những sự kiện của những ngày chiến tranh ác liệt luôn để lại dấu ấn khó phai trong chàng trai Phạm Đức Mạnh”[1].

 

Với thành tích đoạt 02 giải thưởng học sinh giỏi Sử cấp thành phố Hà Nội, sau khi tốt nghiệp trường PTTH В Hà Nội, Thầy cho biết mình thi đỗ vào Khoa Sử - Đại học Tổng Hợp Hà Nội (khóa 1971 – 1975), khi đó đây là giai đoạn chiến tranh đang leo thang ra miền Bắc mà điển hình là trận Điện Biên Phủ trên không vào những ngày cuối tháng 12-1972, vì thế mà cùng với những cuộc sơ tán của thầy trò trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã để lại dấu ấn kỉ niệm đầy hào hùng với những ai đã trải qua”[2].


Xác B52 bên Sông Hồng dưới chân “O du kích nhỏ” [Ảnh: Đoàn Công Tính]

 

Thầy cho biết “Với riêng tôi, những khoảnh khắc huy hoàng chỉ gắn với các kỷ niệm vụn của đầu đời sinh viên Khoa Sử ở giữa lòng Hà Nội và vùng ven về phía tây (Hà Tây) và phía bắc (Hà Bắc)...” cái thời kỳ “mà cố GS. NGND. Trần Văn Giàu lúc sinh thời từng coi là những dữ kiện “vĩ đại bậc nhất” không chỉ của riêng thế kỷ XX mà còn với cả thiên niên kỷ giành lại được và gìn giữ cho bằng được độc lập tự do của dân tộc”.

 

Năm 1975, Thầy tốt nghiệp với đồ án chuyên ngành Khảo cổ học do GS.Trần Quốc Vượng hướng dẫn; để từ đây dấn thân vào con đường nghiên cứu khảo cổ học tại Ban Kim khí và tòa soạn tạp chí “khảo cổ học” tại Viện Khảo cổ học Việt Nam, và sau đó là Ban Khảo cổ học (nay là Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện khoa học Xã hội vùng Nam Bộ). Khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra năm 1979, Thầy lên đường đi bộ đội trở thành “giảng viên người lính” giảng dạy Lịch Sử tại Trường Văn hóa Quân khu 7. Sau 3 khóa giảng dạy (các khóa học từ 1980 đến 1983) Thầy tiếp tục trở lại công tác chuyên môn Khảo cổ học tại Ban Khảo cổ học (1983-1987) và du học Nghiên cứu sinh tại Viện Lịch sử Văn hóa Vật chất (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô) tại Leningrad với sự hướng dẫn của Viện sĩ Thông tấn Vadim Mikhainlovich Masson (từ 10-1987 đến12-1991)[3].


PGS.TS Phạm Đức Mạnh cùng sinh viên Khoa Lịch Sử trên “giảng đường” thực tập bên dòng Tiểu Giang (Sông Bé) về di sản tiền sử Suối Linh trong Chiến Khu Đ. [Ảnh: Chiến Thắng]

 

Sau này, trong những chuyến công tác trên đất Phố cổ Hà Thành cùng với các “đồng nghiệp trẻ”-Nguyễn Công Chuyên và các Thạc sĩ Đỗ Ngọc Chiến, Thạc sĩ Phạm Thị Ngọc Thảo về “xin mẹ tôi” - cụ Phạm Thị Tẩu (nhà số 9B Hàng Dầu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) hai vỏ đạn pháo cao xạ xưa mà chiến sĩ bộ đội Pháo cao xạ bảo vệ cầu Long Biên và đê sông Hồng trong “Hà Nội đêm tháng Chạp 1972” từng chiến đấu làm “Kỷ vật chiến tranh” giáo dưỡng các thế hệ sinh viên trẻ hôm nay tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trước mắt và dài lâu. Các vỏ đạn này vẫn mang các dòng khắc thật dễ thương ngày ấy: “lính Pháo giữa giờ trực chiến”, “Tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Cu Ba muôn năm”, “Kỷ niệm bắn cháy Tuần Dương hạm Canberra của giặc Mỹ ngày 1-5-1967”, “Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam kính tặng”[4]. Và những “Kỷ vật chiến tranh” ngày ấy đã trở thành những chứng tích lịch sử - văn hóa về thời “vĩ đại bậc nhất” trong lịch sử dân tộc mà Thầy vẫn thường nhắc lại lời của Federico Mayor (Tổng Thư ký UNESCO) là “không gì có thể thay thế được” cũng như những lời tâm huyết của GS.NGND. Hà Văn Tấn về việc cần phải gìn giữ di sản của các thế hệ cha ông ta, của dân tộc ta như sau:


Một dân tộc mất đi di tích lịch sử - văn hóa là một dân tộc mất đi trí nhớ của mình. Di tích lịch sử - văn hóa là những bức thông điệp mà cha ông ta đã để lại cho các thế hệ chúng ta và mai sau, trong đó gửi gắm bao trầm tư về sự nghiệp xây đắp nước non này. Trong các di tích hữu hình này, ta thấy hiển hiện các sức mạnh vô hình. Và quanh các di tích văn hóa vật thể này đã và đang kết đọng các lớp văn hóa phi vật thể. Rõ ràng qua di tích lịch sử - văn hóa, chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc. Khi mà đất nước đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, cần thiết phải phát huy bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc, bên cạnh việc hấp thụ tinh hoa của văn hóa thế giới, để con người vững vàng hơn, mạnh mẽ hơn trên con đường tiến lên hiện đại.[5]



[1] Hiền Dịu, Đức Hiển (2017). PGS.TS Phạm Đức Mạnh: Đam mê dẫn lối thành công trong "Những gương mặt giáo sư Việt Nam: Tài năng-Trí tuệ-Nhân cách (Tập 3)". NXB. Thanh Niên, tr.345.

[2] Hiền Dịu, Đức Hiển (2017). PGS.TS Phạm Đức Mạnh: Đam mê dẫn lối thành công trong "Những gương mặt giáo sư Việt Nam: Tài năng-Trí tuệ-Nhân cách (Tập 3)". NXB. Thanh Niên, tr.345-346.

[3] Hiền Dịu, Đức Hiển (2017). PGS.TS Phạm Đức Mạnh: Đam mê dẫn lối thành công trong "Những gương mặt giáo sư Việt Nam: Tài năng-Trí tuệ-Nhân cách (Tập 3)". NXB. Thanh Niên, tr.348.

[4] Phạm Đức Mạnh (2012). Tuổi thơ bận rộn… trong "Nhớ về chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không năm 1972" (Hà Minh Hồng-chủ biên). NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.195-204.

[5] Hà Văn Tấn (2003). “Bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa trong bối cảnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2. tr. 3-7.

  

Xem Bài 2: TS. Nguyễn Đình Thống, GỬI BẠN TÔI - NGƯỜI LÍNH TRƯỜNG SƠN

Xem Bài 3: PGS.TS Hà Minh Hồng, CÂU CHUYỆN TRONG NGHĨA TRANG LIỆT SĨ CHƯ PRÔNG

Xem Bài 4: Những trang nhật ký

KHOA SỬ

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.