Chương trình giao lưu Thầy - Trò Khoa Lịch sử: “Chân dung người lính”

Kỷ niệm 74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2018)

Nhân dịp kỉ niệm 74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2018), sáng ngày 21/12/2018 tại Nhà Điều hành (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM), Đoàn khoa Lịch sử - CLB Sử học Trẻ đã tổ chức buổi giao lưu giữa sinh viên và các quý Thầy giáo - Cựu chiến binh Khoa Lịch Sử với chủ đề “Chân dung người lính”. Đến với buổi giao lưu có sự tham dự của các cựu chiến binh – những Thầy giáo trên giảng đường:
1. PGS.TS Hà Minh Hồng - Nguyên Trưởng khoa Lịch sử, Giảng viên Bộ môn Lịch sử Việt Nam (Đơn vị trinh sát C20, Sư đoàn 320, Quân đoàn 3-Tây Nguyên);
2. ThS. Đỗ Bình Định - Nguyên Phó Trưởng khoa Lịch sử, nguyên Bí thư Chi bộ Khoa, Giảng viên Bộ môn Lịch sử Đảng (đơn vị Tên lửa Cl 7D96, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân);
3. PGS.TS Nguyễn Ngọc Dung - Nguyên Trưởng khoa Lịch sử - nguyên Bí thư chi bộ Khoa, giảng viên Bộ môn Lịch sử Thế giới (Tiểu đoàn 6, Bộ Tư lệnh Hải quân);
4. TS. Ngô Quang Định - Nguyên Chủ tịch Công đoàn Nhà Trường, Giảng viên Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh (Đoàn 220, Cục Hậu cần Miền);
5. TS. Nguyễn Đình Thống - Nguyên Trưởng Bộ môn Lịch sử Đảng, Giảng viên Bộ môn Lịch sử Đảng (Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn).


Đến tham dự buổi giao lưu còn có TS. Nguyễn Thị Phương-Phó Trưởng khoa Lịch sử, ThS. Trần Đình Tư - Trợ lý quản lý sinh viên Khoa.

Chương trình đã thu hút được đông đảo sinh viên Khoa Lịch sử các khóa đến giao lưu. Thông qua những câu hỏi được các bạn sinh viên gửi tới Ban tổ chức, nhiều vấn đề được các quý Thầy chia sẻ. 

1. Thế hệ “Gác bút nghiên

Chia sẻ về cuộc sống trước và trong chiến trường, PGS.TS Hà Minh Hồng cho biết:


Thầy Hà Minh Hồng

Cựu chiến binh Đơn vị trinh sát C20, Sư đoàn 320, Quân đoàn 3-Tây Nguyên

Noel năm 1971, đó là lần đầu tiên tôi mặc áo lính - một bộ áo “thùng thình” vì bấy giờ chúng tôi hầu như ai cũng thiếu cân. Chúng tôi đi theo tiếng gọi của miền Nam, của cuộc chiến tranh, của cả tiếng gọi tuổi trẻ. Trong những ngày học lớp 9, lớp 10 (Hệ 10 năm), chúng tôi đã thấy những hình ảnh của những người như Lê Anh Xuân - một người học Sử ở Trường đại học Tổng Hợp đi ra chiến trường; và lúc đó, chúng tôi cũng đã nghe những câu nói của Thiếu tướng Lê Mã Lương:  “Cuộc đời đẹp nhất là ở trận tuyến đánh quân thù”. Và năm 1971, khi khám sức khỏe tôi phải nhờ đến một người bạn “đủ to lớn, đủ cân nặng” để khám thay để “Đủ cân nặng là đi”, Thầy nhấn mạnh.

 

Sau 3 tháng huấn luyện tôi vào chiến trường Tây Nguyên bổ sung vào đơn vị trinh sát C20 của sư đoàn 320 (sau này thuộc Quân đoàn 3 đóng ở nam Tây Nguyên). Trận đầu tiên của tôi là trận trinh sát. Lúc ấy tôi cũng chưa biết trinh sát là thế nào. “Thế nào là trinh sát?. Tôi không biết.  Không được huấn luyện”. Trong ba tháng huấn luyện, tôi chỉ được huấn luyện bắn súng bài 2,3: bắn bia cố định và bắn bia di động. Khi được gọi lính C20 đâu, chúng tôi được lệnh đi trước trinh sát.  Lúc đó chúng tôi không có địa bàn cũng không có bản đồ, và khi vào trận người trinh sát cũng không được mang súng. Tôi nhớ đó là đêm rằm Trung Thu năm 1972, chúng tôi đã đi những trận trinh sát đầu tiên và trong những trận đó – trận đánh đồn địch trên cao điểm 605, chúng tôi vướng phải quả mìn bi của địch. Nhiều người bị thương, nhóm đằng sau của chúng tôi, là thiếu tá, đại úy, tiểu đoàn trưởng đều an toàn; và những người đó được chúng tôi hướng dẫn vào trong lòng địch để quan sát, để xem cách bố trí như thế nào, để vẽ họa đồ của đồn đó như thế nào, và sau đó rút ra để lấy cái họa đồ đó chuẩn bị cho một trận đánh. Lúc đó tôi mới biết nhiệm vụ trinh sát là như thế.  Trong chiến đấu thực tế, các nhiệm vụ của anh được biết khi anh đang làm nhiệm vụ.


Thầy Đỗ Bình Định
Cựu chiến binh đơn vị Tên lửa Cl 7D96, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân

 

Về phần mình, Thầy Đỗ Bình Định cho biết, Tôi nhập ngũ ngày 18/8/1971, khi tốt nghiệp lớp 10, thi xong đại học và có báo kết quả đậu. Nhưng vì tình nguyện đi bộ đội, và đó cũng là nguyện vọng của mình lúc ấy, cho nên “gác bút nghiên” lên đường. Trong quá trình khám sức khỏe, tôi đủ sức khỏe để vào phi công. Duy nhất ctả trường lúc đó, khoảng hơn 500 người đi khám thì chỉ có mình tôi đậu phi công. Sau 6 tháng huấn luyện, tôi được chuyển đi học quân y hơn một năm (tương đương với y sỹ bây giờ). Sau đó tôi chuyển sang Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân, phục vụ trong đơn vị Tên lửa vác vai (tên lửa cá nhân A72) – đơn vị mới được Liên Xô cung cấp vũ khí, khoảng một trung đoàn. Sau đó đơn vị tôi được điều về sân bay Nội Bài (lúc đó là sân bay quân sự) để bảo vệ sân bay đó. Đúng vào đêm 18/12/1972, máy bay B52 của Mỹ bắt đầu tấn công Hà Nội, và điểm đầu tiên của nó là đánh sân bay Nội Bài. Hôm đó, đơn vị chúng tôi đã chiến đấu và bắn rơi tại chỗ một B52 tại Phù Lỗ. Đây là máy bay B52 đầu tiên của quân đội Mỹ bị bắn rơi tại chỗ. Sau đó, khi cuộc chiến tranh “12 ngày đêm” kết thúc,  tôi được lệnh điều động vào chiến trường Tây Nguyên (khi đó gọi là Chiến Trường B3) và đóng ở bắc Tây Nguyên.


Thầy Nguyễn Ngọc Dung
Cựu chiến binh Tiểu đoàn 6, Bộ Tư lệnh Hải quân

 

Trong quân phục của người lính biển, Thầy Nguyễn Ngọc Dung cho biết: Hôm nay đến gặp các bạn sinh viên, tôi chuẩn bị trước bộ quần áo này để đúng với quân binh chủng của mình. Thầy bắt đầu chia sẻ: Hải quân khi ấy là một quân chủng còn non trẻ so với các quân chủng khác của quân đội ta, nhưng đây là một quân chủng rất đặc biệt, nó đòi hỏi một trình độ kỹ thuật rất cao. Chúng tôi tham gia vào cuộc chiến tranh chống Trung Quốc và Khơ-Me Đỏ xâm lược. Tôi là con trai đồng bằng chứ không phải vùng biển mà trong truyền thống hải quân người ta lấy con trai vùng biển bởi vì “biết sóng biết gió”, “ăn khỏe, bơi khỏe, cái gì cũng khỏe” còn con trai đồng bằng thì không khỏe bằng con trai vùng biển; mà không chỉ con trai vùng biển mà con gái vùng biển cũng khỏe không thể tưởng tượng được. Khi đó, tôi là sinh viên của Trường cao đẳng Kỹ thuật Hưng Yên (bây giờ là Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên), do xảy ra chiến tranh, tôi tạm thời bỏ ước mơ ngồi ở giảng đường đại học - cao đẳng để lên đường chiến đấu.
Binh chủng đầu tiên của chúng tôi tuyển vào khoảng 200 tân binh Quân chủng Hải quân, sau khoảng 3 tháng huấn luyện cấp tốc, còn khoảnh 50-60 người, còn lại số anh em được điều lên trên phía Bắc để đóng góp trên đấy. Nhiệm vụ của tôi là đo vẽ khảo sát biển. Giống như đo vẽ bản đồ trên đất liền và khảo sát độ chênh lệch của thủy triều để cho tàu bè của chúng ta có thể cập vào đảo. Chúng tôi làm suốt ngày suốt đêm. Ngày thì đo đạc, tối thì thức để canh thủy triều lên; cứ khoảng 1 tiếng chúng tôi lại ra xem thủy triều lên trên thước mia.  


Giống như những người bộ đội khác, người chiến sĩ hải quân chúng tôi cũng vượt mọi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ” (Thầy Nguyễn Ngọc Dung)

 

Cuộc đời của người bộ đội quá là gian khổ có thể hi sinh bất cứ lúc nào. Đơn vị chúng tôi đã ra Trường Sa nhiều lần,  bản thân tôi cũng đã hai lần ra Trường Sa, mỗi lần khoảng vài ba tháng. Chúng tôi chờ vào đúng thời điểm êm sóng (vào khoảng tháng tháng 3, tháng 4 trở đi).  Mỗi lần tàu ra Trường Sa là phải tính từng li từng chút một, 6-7 tháng mới có một chuyến tàu ra Trường Sa. Đi ra Trường Sa hồi đó trong 4 ngày 4 đêm. Giống như những người bộ đội khác, người chiến sĩ hải quân chúng tôi cũng vượt mọi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Tôi nghĩ rằng bất cứ người lính nào khi đứng trong hàng ngũ họ đều có một niềm tin và có một tình yêu rất tự nhiên là “bảo vệ Tổ quốc”. 

Chia sẻ về tình đồng đội, Thầy cho biết: Tình đồng đội là sự chân thành, hai người giống như là một, không có sự phân biệt. Bộ đội thì thiếu thốn, gian khổ, cái gì cũng chia hết. Có được 1 điếu thuốc cả đội đều hút. Có những hình ảnh rất thương về người lính đảo, trong tôi hình ảnh đó chính là những ngôi mộ gió trên các đảo xa. Tôi nhớ ở đảo Song Tử Tây, song tử tức là hai cái chết cùng một lúc, ở đây sóng gió cực kỳ kinh khủng và khi có bão tố thì thật khủng khiếp. Nơi đây có vài ba anh em bị sóng cuốn trôi, đồng đội đã lập nên lên để tưởng nhớ nhưng không có hài cốt bên trong. Găn với cuộc đời quân thủy của mình, Thầy chia sẻ nỗi lòng mình qua bài thơ “Sông Thao” của nhà thơ Nguyễn Duy:

“Tôi gửi lại đây cái buồn vô cớ
Để mang về cái nhớ bâng quơ
Xin chớ hỏi tại làm sao như vậy
Tôi vốn không rành mạch bao giờ...” (Sông Thao, Nguyễn Duy)

Với TS. Nguyễn Đình Thống, Thầy tâm sự:


Thầy Nguyễn Đình Thống
Cựu chiến binh Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn

 

Tôi là người lính của Sư đoàn 472,  Bộ đội Trường Sơn (mật danh đoàn 559) hay còn gọi là đoàn vận tải Quang Trung (tên gọi trên báo chí truyền thông bấy giờ) và tham gia phục vụ chiến đấu là chính. Tôi công tác trong quân ngủ từ 1973 sau giải phóng trở về làm công tác nghiên cứu lịch sử Đảng. Thế hệ chúng tôi có ít lựa chọn. Khi nhập ngũ, điều đó giống như là một điều tất yếu của thanh niên đến tuổi lên đường cầm súng ra trận. Khi giải ngũ, Tôi ước mơ được chọn đi học làm kỹ sư nông nghiệp để về cải tạo cánh đồng quê nhà, nhưng được chọn học chuyên ngành Lịch sử Đảng-nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Tình yêu người lính - Tình yêu Platon

“Tình yêu người lính là một tình yêu rất dung dị và tự nhiên, trong tình yêu lứa đôi họ có một tình yêu có tính chất Tình yêu Platon - tình yêu có tính chất thuần túy tinh thần”. Thầy Nguyễn Ngọc Dung đã chia sẻ như vậy khi nói về tình yêu đời lính. Thầy cho biết thêm:
Người lính khi đi chiến trận luôn mang trong mình sự khắc khoải bên trong về nỗi thương nhớ bạn gái. Đó là một tình yêu rất đặc biệt,  nó khác với có những tình yêu của đôi bạn trai-gái bình thường. Tình yêu của người lính có tính bi kịch rất lớn. Thế hệ chúng tôi đi bộ đội với tinh thần “phục vụ quân đội lâu dài” theo nhiệm vụ chung của đất nước. Khi nào còn quân xâm lược thì lúc đó có còn đi bộ đội. Đối với người lính, việc đi và trở về là hai cơ may cực kỳ khác nhau; ra đi là 100%, nhưng trở về thì không biết bao nhiêu phần trăm. Do đó trông chờ vào một tình yêu đơm hoa kết trái ở người lính thì chỉ có một ít người may mắn có.
Ở một kỷ niệm khác với hậu phương, Thầy Hà Minh Hồng, tiết lộ:
Tôi có một cô bạn, cô ấy học văn học, tôi học toán nhưng thích văn thơ. Điểm giữa kì của tôi lúc đó ở giờ văn luôn đạt cao nhất cho nên cô bạn ấy có vẻ “kết kết” tôi gì đấy. Trước ngày tôi đi bộ đội, ngày 23 tháng 12, Cô bạn ấy đến và đưa tôi một cuốn sổ “nhỏ xíu” - chỉ bỏ vừa vào túi áo trước ngực và chẳng có chữ gì bên trong. Ngày đầu tiên vào trận, tôi đã ghi dòng nhật ký đầu tiên vào cuốn sổ đó và bỏ vào trong túi trước ngực. Trong trận mìn chúng tôi vấp phải ở cao điểm 605, một viên bom bi đã xuyên qua ngực vào trong người; chính nhờ cuốn sổ trong ngực áo mà nó đã ngăn viên bi xuyên qua vào sâu bên trong. Viên bi của USA (United States of America) vẫn còn đang ở trong người tôi, và cuốn sổ, có  dấu nốt của một viên bi xuyên qua, sau này tôi đã ghi đầy nhật ký trong chiến trường. Tôi vẫn giữ cuốn sổ ấy bên mình, bởi thông qua cuốn sổ của người bạn đó, đã ngăn cho tôi một viên bi xuyên người. 
Với TS. Ngô Quang Định, Thầy cho biết đã tham gia chiến trường đầu những năm 70, địa bàn hoạt động là Campuchia và miền Đông Nam Bộ. Tình yêu của thế hệ Thầy lúc ấy “Yêu là chưa bao giờ cầm tay”. Thầy chia sẻ qua câu hát Quan họ “Còn Duyên”:

“Đừng thấy em lắm bạn mà ngờ,
Tuy rằng em lắm bạn, nhưng em vẫn chờ người ngoan”. (Còn Duyên, Dân ca Quan Họ).


Thầy Ngô Quang Định
Cựu chiến binh Đoàn 220, Cục Hậu cần Miền

3. Người lính và thế hệ trẻ hôm nay - Người học trên giảng đường cũng làm nhiệm vụ Tổ Quốc phân công

Khi nhắc tới người lính và thế hệ trẻ ngày nay, Thầy Nguyễn Ngọc Dung cho rằng: Tôi nghĩ Bộ đội cũng chính là những người thanh niên như các bạn, chẳng qua họ mặc áo lính và làm nhiệm vụ Tổ Quốc phân công; còn các bạn là những người học trên giảng đường và cũng làm nhiệm vụ Tổ Quốc phân công. Thầy Đỗ Bình Định cho biết thêm: Quân đội Việt Nam hiện nay đang từng bước tiến lên hiện đại, với một số đơn vị đã tiến thẳng lên hiện đại, ví dụ như Không quân, Hải quân, Thông tin liên lạc, v.v.. Khí thế của thanh niên tham gia lên đường nhập ngũ rất hăng hái và vui vẻ; rất nhiều người tình nguyện đặc biệt là các nữ giới. Trong quá trình rèn luyện nghĩa vụ 2 năm, rất nhiều những chiến sĩ đã trưởng thành và sau đó được đi học và được phân công làm việc. Nhìn chung thanh niên hiện nay, tinh thần bảo vệ Tổ quốc và trách nhiệm với đất nước có thể nói rất là cao. Đó là những thanh niên rèn luyện có ý chí có phẩm chất, cầu tiến, tích cực xung phong trên mọi lĩnh vực. Đó chính là nguồn động lực lớn cho chúng tôi - thế hệ già - đã có thế hệ trẻ tiếp bước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Chương trình giao lưu giữa Thầy và Trò Khoa Lịch sử đã đem đến cho các bạn sinh viên không chỉ là những “hồi ức lịch sử” về thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước trong lớp thế hệ các Thầy, đó là những dòng hồi ức về vận mệnh và trách nhiệm công dân với Tổ quốc, về tình yêu và tình đồng đội, mà còn cả những sự nhắn nhủ tới thế hệ hôm nay trong việc phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

* Một số hình ảnh tại buổi giao lưu.







Bài và ảnh: Nguyễn Chiến Thắng


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.