Kỷ niệm 60 năm Ngày Bến Tre Đồng Khởi (17-1-1960 – 17-1-2020)

Kỷ niệm 60 năm Ngày Bến Tre Đồng Khởi (17-1-1960  –  17-1-2020), Website Khoa Lịch Sử xin gửi tới quý bạn đọc  bài viết của PGS.TS Hà Minh Hồng (Nguyên Trưởng Khoa Lịch Sử, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM) tựa đề “PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI Ở MIỀN NAM TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC”.


Bài viết trên được in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Quốc gia: “Phong trào Đồng Khởi 1960 - Bước ngoặt của cách mạng miền Nam” (do Bộ Quốc phòng phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Tỉnh uỷ Bến Tre tổ chức ngày 19/12/2019) được Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản (Quý IV-2019; số ISBN: 978-604-51-5776-3, từ trang 609 đến trang 619).




 

PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI Ở MIỀN NAM

TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

PGS.TS HÀ MINH HNG

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


 

Sau hai năm thi hành Hiệp định Giơnevơ, cách mạng miền Nam rơi vào tình thế vô cùng khó khăn, hiểm nghèo. Đ chống lại sự khủng bố tàn bạo của kẻ thù, nhân dân cùng lực lượng yêu nước và cách mạng ở miền Nam buộc phải vũ trang tự vệ với nhiều hoạt động trừ gian, diệt ác ôn, tiến đến công đồn diệt bốt. Từ những cuộc khởi nghĩa cục bộ nhỏ lẻ, đến cuối năm 1959 đầu năm 1960, dưới ánh sáng của Nghị quyết 15 đã xuất hiện những cuộc khởi nghĩa từng phần và cách mạng n ra đồng loạt. Phong trào Đồng khởi lan rộng khắp miền Nam với nhiều hình thái phong phú của sự kết hp đấu tranh chính trị với vũ trang; đến cuối năm 1960 đã chuyển hẳn thế chiến lược của cách mạng miền Nam sang thế tiến công.


1. Từ trong tình thế him nghèo


Thực tế hai năm thi hành Hiệp định Giơnevơ, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam, được đế quốc Mỹ giúp sức, đã chà đạp lên nguyện vọng thống nhất đất nước của nhân dân; khả năng của con đường hòa bình thống nhất đất nước đã bị phá hoại. Tình hình miền Nam cho thấy, “Đ chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác”[1].

Nhưng con đường ấy ở miền Nam từ năm 1957 trở đi lâm vào tình thế muôn vàn khó khăn, thử thách. Khi chế độ thực dân mới được củng cố, chính quyền Sài Gòn ra sức tăng cường khả năng ứng phó về quân sự, triển khai hệ thống gián điệp, mật vụ từ trung ương xuống các địa phương, tăng cường trang bị vũ khí cho dân vệ, phòng vệ dân sự để đàn áp dân chúng; huy động lực lượng quân đội, cảnh sát mở hàng ngàn cuộc càn quét đánh phá các cơ sở Đảng và cơ sở cách mạng còn lại ở miền Nam, lùng sục bắt và giam cm, thủ tiêu nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng, người yêu nước, người kháng chiến cũ, gia đình có thân nhân đi tập kết... Người dân lao động ở miền Nam, nhất là người sống trong vùng kháng chiến cũ, vùng nông thôn, đã bị đe dọa về tính mạng, bị cướp đoạt về ruộng đất tài sản; là cán bộ, đảng viên, du kích bị truy lùng và phải “điều lắng”, không thể hoạt động được; lực lượng cách mạng bị tn thất, phong trào cách mạng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong 4 năm (1955-1958), miền Nam tổn thất chín phần mười số cán bộ, đảng viên; Nam Bộ có khoảng 70.000 cán bộ, đảng viên bị địch giết hại; gần 900.000 cán bộ, nhân dân bị bắt, bị tù đày, gần 200.000 bị tra tấn thành thương tật, chỉ còn khoảng 5.000 so với 600.000 đảng viên trước đó. Mặc dù vậy, chính quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm còn đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh (23.3.1959), ban hành Luật số 10/59 (6.5.1959) quy định hình phạt cho những người chống đối là tử hình và khổ sai chung thân, lập Tòa án quân sự đặc biệt lưu động xét xử những người yêu nước, ban hành Luật số 21/59 về việc dùng máy chém trong thi hành án...


Đó là tình trạng, như Lênin đã chỉ ra, những “kẻ bóc lột cũng không thể sống và thống trị như trước được nữa” và “quần chúng bị áp bức và bóc lột nhận thức được rằng không thể sống như trước nữa và đòi hỏi phải có sự thay đổi”[2]; tất yếu họ phải tự vệ và chống lại chính quyền tàn bạo ấy.


Nam Bộ, từ giữa năm 1958, Bộ Chỉ huy quân sự miền Đông được thành lập để đẩy mạnh các hoạt động quân sự và vũ trang tuyên truyền. Ở Khu 5, từ đầu năm 1959, những cuộc nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ đã nổ ra trong các huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bắc Ái (Bình Thuận)... Đến năm 1959, toàn miền Nam có 139 trung đội vũ trang tập trung, vũ trang tuyên truyền, hàng trăm tổ tự vệ; đồng thời xuất hiện những hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương đột nhập đánh địch ở Trại Be (Biên Hòa, ngày 18.9.1957), tấn công địch ở quận lỵ Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một, ngày 10.8.1958), tấn công trụ sở phái đoàn MAAG của Mỹ ở Biên Hòa (ngày 20.10.1958)... Cuộc nải dậy sớm ở Trà Bồng (Quảng Ngãi, tháng 8.1958) và các cuộc đấu tranh bằng bạo lực quần chúng ở nhiều địa phương Nam Bộ diệt ác phá kìm, giải phóng nông thôn... cho thấy miền Nam đã và đang trong tình trạng "tức nước v bờ".


Tình trạng ấy diễn ra ngay trong khi thi hành Hiệp định Giơnevơ, nhất là từ 1958-1959, càng về sau càng bức thiết; nhưng tại sao vẫn phải chịu đựng “tức nước” mà chưa “vỡ bờ”? Phải chăng ch do yêu cầu “Làm cách mạng phải biết chờ đợi. Vì đây là việc rất hệ trọng, phải do Bộ Chính trị và Trung ương Đảng quyết định nhiệm vụ của hai miền, của cả nước, thì mới làm được và làm mới có hiệu quả"[3]. Thực tế lúc đó “khắp miền Nam đang rậm rịch chuẩn bị và nóng lòng chờ lệnh cho hoạt động vũ trang”, nhưng nhiều đảng bộ địa phương miền Nam và Xứ ủy vẫn tuyệt đối đợi lệnh bằng việc duy trì đấu tranh chính trị để tránh vi phạm một chủ trương ca Trung ương từ tháng 7 năm 1954; việc tự vệ vũ trang chống địch đã từng bị phê phán là “tư tưởng vũ trang manh động”, “thiếu tin tưởng đường lối”[4]. Mặt khác, rõ ràng là “Trong một thời gian khá dài, từ năm 1955 đến năm 1958, khi cả miền Nam tràn ngập trong nước sôi lửa bỏng, Đảng ta đã chậm tìm ra phương pháp đấu tranh chuyển thế, để địch thẳng tay khủng bố, tàn sát, gây tổn thất không kể xiết cho nhân dân miền Nam, đưa cách mạng lâm vào tình trạng rất hiểm nghèo”[5].


Khắc phục tình trạng đó như thế nào? Chuyện kể của các thành viên Xứ ủy Nam Bộ đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) cho biết: Trước khi vào lại chiến trường, các đồng chí Phạm Văn Xô, Phan Văn Đáng được “nói hết tình hình miền Nam” với Bác Hồ và được Người căn dặn: “Miền Nam ở xa, Xứ y Nam Bộ phải chịu trách nhiệm với Trung ương. Cách mạng phải sáng tạo. Kiên quyết không để cho Mỹ - Diệm tiêu diệt cách mạng miền Nam”. Sau đó đồng chí Lê Duẩn chỉ dẫn thêm: “Bác nói thế rồi! Vậy các anh về báo cáo với Xứ ủy cứ thế mà làm”[6].


Cuối tháng 11 năm 1959, Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị lần thứ 4 mở rộng đến Bí thư các liên tỉnh ủy tại Trảng Chiêng (Rùm Đuông, căn cứ Bắc Tây Ninh); tinh thần và Nghị quyết Hội nghị 15 của Trung ương được quán triệt và triển khai thực hiện theo hướng: “Khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[7]. Nghị quyết 15 “là một bước ngoặt lớn vạch rõ lối đi sáng sủa về đường lối phương hướng phương châm cách mạng... “Đảng cho đánh rồi” như một luồng điện chạy đến mọi người gây niềm phấn khởi, tin tưởng vô hạn, thổi bùng lên khí thế cách mạng của quần chúng”[8].


2. Những cuộc đồng lòng khởi nghĩa diễn ra đồng loạt


Liên tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ tổ chức hội nghị tại Hồng Ngự (tỉnh Kiến Phong) triển khai Nghị quyết Xứ ủy (tháng 12-1959); Bí thư Liên tỉnh ủy Nguyễn Minh Đường chủ trì Hội nghị ch trương: “Phát động quần chúng đồng loạt nổi dậy toàn khu, diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ ấp, xã”. Phương châm hành động là nổi dậy đều khắp, không để nổi cộm từng điểm khiến đối phương có thể tập trung lực lượng đàn áp[9].


Đêm 1 tháng 1 năm 1960, lãnh đạo tỉnh Bến Tre họp tại xã Minh Đức huyện Mỏ Cày dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Thị Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy, người vừa dự Hội nghị Khu ủy trở về. Hội nghị chủ trương phát động quần chúng thực hiện tuần lễ đồng lòng khởi nghĩa vũ trang (từ 17 đến 24.1.1960) tiến công đồn bốt, trụ sở chính quyền địch ở cơ sở; nhất trí làm thí điểm nổi dậy ở 3 xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày) thuộc lao Minh, sau đó sẽ lan sang lao Bảo (các huyện Giồng Trôm, Ba Tri...)[10]; phương châm: “đánh phải đánh tới tấp. Phát triển lực lượng hết khả năng không hạn chế. Khi sóng gió nổi lên thì phải mạnh dạn căng buồm lướt sóng, nhằm thẳng mục tiêu mà tiến tới”[11]; thực lực ban đầu được tạo ra bằng cách tập trung số thanh niên hăng hái nhất giả làm bộ đội với “súng bập dừa” và tung dư luận ‘Tiu đoàn 502 Kiến Phong về Bến Tre đánh lớn”, để hù dọa địch...


Theo đó, những đốm lửa châm lên đầu tiên ở huyện Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre) là xã Định Thủy (sáng 17.1.1960), xã Phước Hiệp (đêm 17.1.1960) và xã Bình Khánh (ngày 18.1.1960). Tại Định Thủy, sáng 17 tháng 1, tổ hành động tập trung diệt tổng đoàn dân vệ và bọn ác ôn, nhanh chóng đánh chiếm bốt địch. Cùng lúc đó, nhân dân nổi trống mõ, đốt ống lói[12], hò la vang dậy gây khí thế áp đảo, phá tan hệ thống kìm kẹp của địch ở xã, ấp. Trong 3 ngày nhóm lên ngọn lửa, quần chúng cách mạng nổi dậy giải phóng hoàn toàn 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh; lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh được thành lập (ngày 19.1). Từ ba xã, ngọn lửa quật khởi bùng cháy lan ra khắp các xã còn lại của Mỏ Cày và lan nhanh sang Minh Tân, Thnh Phú. Những cơn sóng thần của quần chúng nổi dậy tràn qua lao Minh, lao Bảo, lao An Hòa. Bản quân lệnh của ban lãnh đạo tỉnh Bến Tre được thảo ra và dán khắp nơi làm tăng thêm uy thế cách mạng nổi dậy. Đến ngày 24 tháng 1 năm 1960, khởi nghĩa lan rộng ra 47 xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri, Châu Thành và Thạnh Phú; giải phóng hoàn toàn 22 xã; diệt ác, bao vây đồn bốt, giải phóng nhiều ấp trong 25 xã; 300 tề điệp bị bắt, 37 đồn bốt bị bức hàng, bức rút. Lực lượng cách mạng thu 150 súng, nhiều đạn và lựu đạn, thành lập đại đội vũ trang đầu tiên của Bến Tre với phiên hiệu là Đại đội 264[13].


Tháng 4 năm 1960, Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ tổ chức hội nghị phổ biến kinh nghiệm Đồng khởi ra toàn Khu, đặc biệt phân tích, đề cao cuộc Đồng khởi ở Bến Tre [14]. Tháng 7 năm 1960, Hội nghị Xứ ủy lần thứ năm đã xác định nhiệm vụ sắp tới: “Tích cực đẩy mạnh đấu tranh chính trị có kết hợp đấu tranh vũ trang đúng mức để tiếp tục phá kìm kẹp, giữ vững và mở rộng thế chủ động ở nông thôn, đồng thời hết sức đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị”[15]. Hội nghị chủ trương mở Đồng khởi đợt II, lấy ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến (23.9.1945) làm ngày phát động.


Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1960, từng đợt, từng cao điểm, khắp miền nông thôn Nam Bộ, những cuộc “Đồng khởi nhồi”, “Đồng khởi bồi”. Từ Nam Bộ, phong trào Đồng khởi dội trở ra Nam Trung Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Tây Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 1960, cuộc tiến công nổi dậy ở Dak Tả (Kon Turn) mở đầu cao trào diệt đồn địch, phá “khu dồn”, phá ‘Trại người Thượng” lan ra khắp các tỉnh cao nguyên. Tính đến cuối năm 1960, Nam Bộ có 865/1193 xã giành quyền làm chủ; ở Khu 5 có 3.200/11.500 thôn giành quyền làm chủ[16].


Đồng khởi đã “bóc dần lực lượng của địch và trên thực tế đã bóc được một lớp đầu tiên. Đây chỉ là bước đầu, nhưng là một bước rất cơ bản, vì nó đã làm tan rã từng mảng lớn chính quyền cơ sở, một bộ phận quan trọng trong bộ máy cai trị của địch”[17]. Cục Tình báo Trung ương M khi báo cáo cho Tổng thống Kenơđi năm 1961 thừa nhận: “Một thời kỳ hết sức nghiêm trọng đối với tổng thống Ngô Đình Diệm... hin đã ở ngay trước mắt... Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm phía nam và tây nam Sài Gòn cũng như một số vùng ở phía bc đã nằm dưới quyền kiểm soát lớn của Cộng sản”[18].

 

3. Chuyển thế chiến lược, bưc vào chiến tranh cách mạng

 

Đồng khởi là một hình thức độc đáo sáng tạo của cách mạng Việt Nam, là nhng cuộc khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và rừng núi, như những lớp sóng thần từng đợt dâng lên từ sức mạnh của quần chúng khi các Đảng bộ địa phương “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[19].


Những cuộc đồng lòng khởi nghĩa từng phần diễn ra đồng loạt năm 1960 không phát triển lên Tổng khởi nghĩa như Cách mạng Tháng Tám (1945), cũng chưa đánh đổ toàn bộ chế độ Mỹ - Diệm, chưa thể giải quyết toàn bộ các vấn đề của cách mạng miền Nam; nhưng “đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt quan trọng, chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công, phát triển cao trào cách mạng ra khắp miền với sự kết hp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự”[20]; và theo hướng thứ hai của quy luật, khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng với việc tạo ra thế và lực mới cùng thế trận chiến tranh nhân dân, làm tiền đề cho cả tiến trình kháng chiến. Những tiền đề chiến lược ấy gồm những kết quả có ý nghĩa lịch sử trọng yếu như sau:


Một là, tính đến cuối năm 1960, phong trào Đồng khởi đã căn bản làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở nông thôn của địch; hình thành vùng giải phóng rộng lớn liên hoàn trên khắp vùng nông thôn và rừng núi miền Nam với khoảng 6,5 triệu dân giành quyền làm chủ[21].


Hai, từ trên đỉnh cao của quá trình ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời ngày 20 tháng 12 năm 1960. Mặt trận trở thành người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam đấu tranh chống chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ; đồng thời, Mặt trận là ngọn cờ tập hợp đoàn kết các tầng lớp, giai cấp, tố chức, đảng phái chính trị ở miền Nam vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất T quốc.


Ba , từ đầu năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam được thành lập, cùng với nhiều tổ chức thành viên khác của Mặt trận gii phóng được lần lượt ra đời: Công nhân giải phóng, Phụ nữ giải phóng, Thanh niên giải phóng, Nông dân giải phóng... là lực lượng chính trị quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam chống các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới ca đế quốc Mỹ.

 

4. Phát huy trong hành trình kháng chiến

 

Đồng khởi nổ ra vào lúc cách mạng ở miền Nam bị tn thất nặng nề sau 6 năm đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954; địch đã nhanh chóng xây dựng hoàn chnh chế độ thực dân mới với đầy đủ các công cụ chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa... Đó hoàn toàn không phải một sự “ăn may” nào của bên này, hay “sai lm” nào đó của bên kia, cũng không nên hiểu là logic đơn gin của tình trạng “tức nước vỡ bờ”, mà “chỉ có thể là kết quả của phong trào đấu tranh chính trị lâu dài, quyết liệt của quần chúng, của một phong trào cách mạng sâu rộng, không phải chỉ trong mấy xã, mà tạo thành thế liên hoàn bao gồm nhiều huyện, nhiều tỉnh”[22] mà thôi.


Đồng khởi ở miền Nam 1960 góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và củng cố miền Bắc vừa bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cách mạng miền Nam. Là kết quả ở đỉnh cao của cách mạng trong thời kỳ mở đầu lịch s vẻ vang kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đồng khởi còn tạo ra nhiều tiền đề quan trọng cơ bản cho những bước phát triển nhảy vọt trong những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến vĩ đại ấy, đó là:


Nêu cao ý chí quyết tâm phát động quần chúng đứng lên khởi nghĩa giành quyền làm chủ ở nông thôn, là phương pháp thích hợp để thực hiện tiến công địch, từ đó có những sáng tạo trong kết hợp khởi nghĩa với chiến tranh cách mạng suốt giai đoạn sau. Đồng thời sáng tạo ra hình thái kết hợp tiến công và nổi dậy của hai lực lượng chính trị và vũ trang làm hình thức phát triển chủ yếu của chiến tranh nhân dân chống các chiến lược chiến tranh của Mỹ, đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 và hoàn chỉnh trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Từ thực tiễn phong trào cách mạng đã xuất hiện tên gọi của lực lượng mới là “Đội quân tóc dài” với hình thức đấu tranh độc đáo “Tản cư ngược” làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của phụ nữ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhằm khai thác và tận dụng thế hợp pháp của quần chúng trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược ca đế quốc Mỹ.


Từ thực tế kết quả của phong trào Đồng khởi và nhất là quá trình phát triển những kết quả ấy trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Duẩn đã tổng kết: “Khởi nghĩa từng phần, đấu tranh quân sự và chính trị song song, tiến hành đánh địch bằng ba mũi tiến công quân sự, chính trị và binh vận, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược là những nét nổi bật nhất của phương pháp cách mạng miền Nam” [23].


Quân và dân miền Nam từ sau Đồng khởi tiếp tục đấu tranh bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, sử dụng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị) lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đến chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh; ý chí quyết tâm đồng lòng, đồng loạt trong sức mạnh quật khởi tiếp tục phát huy trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Tiến công  chiến lược năm 1972, Tổng tiến công  và ni dậy trong mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng khởi không chỉ là sáng tạo độc đáo trong hành trình  kháng chiến cứu nước, tinh thần Đồng khởi luôn là sức mạnh truyền thống quan trọng được đẩy lên trong suốt hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú dẫn:

[1] Duẩn, Đường lối cách mạng miền Nam, tháng 8 năm 1956. Trích: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.785.

[2] V. I. Lê-nin, Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sàn, Nxb Tiến bộ, Mátcơva, 1973, tr. 125-126.

[3] Đồng chí Lê Duẩn đã từng kẻ lại năm 1957 khi ra miền Bắc: "thấy tình hình quốc tế, tinh hình trong nước nó phức tạp quá, và càng thấy rõ một điu rng, dù mình rt muốn nhưng không thể nôn nóng được. Làm cách mạng phải biết chờ đợi. Vì đây là việc quá lớn, phải là B Chính trị và Trung ương Đảng quyết định nhiệm vụ của hai miền, ca c nước, thì mới làm được và làm mới có hiệu qu". (Lê Đức Anh, Lê Duân - Một tư duy sáng tạo không ngừng. VietnamNet, tháng 1-2007).

[4] Хеm thêm Lịch sử Đảng bộ tnh Binh Dương (1930-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.305-306.

[5] Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng kết cuộc kháng chiến chng Mỹ, cứu nước - Thng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.47-48.

[6] Lê Đức Anh, Lê Duẩn - Một tư duy sáng tạo không ngừng. VietnamNet, tháng 1 năm 2007.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đáng Toàn tập, tập 20 (1959), Nxb Chính trị quốc gia, Hả Nội, 2002, tr.82.

[8] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ tháng 10 năm 1968 (theo Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn, Quỳnh Cư, Tìm hiểu phong trào Đồng khởi ở miền Nam Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, tr. 167-168).

[9], [10] Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập 2 (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.158,160-161.

[11] Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn, Quỳnh Cư, Tìm hiểu phong trào Đồng khởi ở miền Nam Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, tr.269

[12] Là loại ống tre, nứa chứa khí đất đèn (axêtylen) - ВТ.

[13] Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập 2 (1954-1975), Sđd, tr.162

[14] Đồng khởi Bến Tre với quy mô lớn khi có Nghị quyết Trung ương 15, phương thức tiến công tổng hợp tương đối hoàn chỉnh, khi thực lực quân sự chưa có đủ đã khéo léo tạo được uy thế bằng danh nghĩa và nghi binh; đã tạo ra mô hình tiến công kết hợp ba mũi chính trị, quân sự, binh vận và đặc biệt phát huy mạnh mẽ vai trò của “đội quân tóc dài”, tận dụng thế hợp pháp của quần chúng sáng tạo ra hình thái đấu tranh “tản cư ngược” hêt sức độc đáo, làm thất bại cuộc phản kích quy mô lớn của địch.

[15] Nghị quyết Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ lần thứ 5 (tháng 7-1960). Tài liệu lưu tại Cục Lưu tr Văn phòng Trung ương Đng.

[16] Ban ch đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-I975) thng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.529.

[17] Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật. Hà Nội,1985, tr.41.

[18] Theo Lê Hồng Lĩnh, Cuộc đồng khởi kỳ diệu ở min Nam Việt Nam, Nhà xuất bn Đà Nng, 2006, tr.5

[19] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.82

[20] Lê Duẩn, Dưới lả cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì ch nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.56.

[21] Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Lịch s Nam Bộ kháng chiến, tập 2 (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 199.

[22] Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.40.

[23] Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì ch nghĩa xã hội, tiến lên giành những thng lợi mới. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.59.

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.