Phạm Đức Mạnh. Lạm bàn về niên biểu tục thờ Mẫu & cá tính “Nam Bộ” trong di sản đình miếu - lăng tẩm nữ quý tộc Nam Bộ thời cận đại

     Tục Thờ Mẫu và cả Thờ Thần Mẫu không phải là “một tín ngưỡng dân gian thuần Việt” [21], cũng không phải là thứ tín ngưỡng “chỉ có ở Việt Nam, bắt nguồn từ thời kỳ mẫu hệ ở nước ta đã từng tồn tại cách đây cả ngàn năm”...


LẠM BÀN VỀ NIÊN BIỂU TỤC THỜ MẪU & CÁ TÍNH “NAM BỘ”
TRONG DI SẢN ĐÌNH MIẾU - LĂNG TẨM NỮ QUÝ TỘC NAM BỘ THỜI CẬN ĐẠI



Phạm Đức Mạnh

PGS.TS. Giảng viên Khoa Lịch sử.
Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM



     Tục Thờ Mẫu và cả Thờ Thần Mẫu không phải là “một tín ngưỡng dân gian thuần Việt” [21], cũng không phải là thứ tín ngưỡng “chỉ có ở Việt Nam, bắt nguồn từ thời kỳ mẫu hệ ở nước ta đã từng tồn tại cách đây cả ngàn năm” (?) [20]. Theo các nguồn liệu khảo cổ học đáng tin nhất, tục thờ Mẫu – Thần Mẫu chính là một trong những tập tục nguyên thủy nhất của loài người trong trường kỳ “nhân hóa”, khởi phát ngay thuở ban đầu của tiến trình “Tiền sử” (Prehistory) – “lột bỏ xác vượn để trở thành khổng lồ”.
     Dấu tích xưa nhất của tục thờ “tính Nữ” này gắn bó trước hết với lục địa Châu Âu thời kỳ manh nha “Nghệ thuật Băng Hà” (Ice Age Art) niên biểu 35.000-25.000 năm, khi các nghệ sĩ Neandertal đẽo khắc ngà voi mammoth hoặc đục tạc đá vôi tạo hình người (chủ yếu phụ nữ) và động vật (từ động vật có vú lớn như voi ma mút, tê giác, sư tử đến vịt, thiên nga, chim nước) và để lại tác phẩm của họ dọc các dòng sông từ Nga, Ukraine, Malta và Buret gần hồ Baikal đến tận miền tây nam nước Pháp. Các nghệ sĩ thể hiện hình tượng phụ nữ thuộc nhiều lứa tuổi và kiểu dáng phổ biến khắp Cựu lục địa được các bác học coi như biểu tượng quyền năng chính trị và cũng là đối tượng thờ cúng của các xã hội mẫu hệ nguyên thủy.
     Cùng với các “tác phẩm để đời” mệnh danh “Thần Vệ Nữ tiền sử” (Prehistoric Venus) khắc bằng ngà voi mammoth găm thẳng đứng trong trầm tích văn hóa Kostenki bên bờ sông Đôn Siberia (phát hiện năm 1923 trong hố đất nung phủ xương bả vai mammoth, với tuổi 24.000-22.000 năm BP) (H1) (Abramova, Z.A. 1967; Klein, Richard G. 1973; Soffer, Olga, 1985; Bahn, P.G. 1995); hoặc đẽo bằng serpentine xanh ở đồi Galgenberg bên bờ sông Danube (phát hiện năm 1988, có tuổi Radiocarbon khoảng 32.000 năm) hay khắc trên đá vôi ở Willendorf (Austria) (H2) và bằng hoàng thổ ở Dolni Vestonice (Czech) (Bahn, P.G. – Vertut, J. 1988; Bhattacharya, D.K. 1977; Kozlowski, Janusz K. 1992); các nghệ sỹ của “Thời đại Băng Hà” (Ice Age) khởi sự cả truyền thống tôn thờ “Thần Mẹ” (Mother Goddess) tiền sử từ thời “Đá cũ” (Palaeolithic) đến tận thời “Đá mới” (Neolithic) với hình khắc đàn bà cách điệu “tính nữ” qua vòng 3 của nghệ thuật bích họa tuổi 12.600 BP ở vách đá Gonnenrsdorf (Germany) (H3) và cả tuyệt tác đất sét nung “người đàn bà khỏa thân” (naked woman) đang sinh con trên ghế tựa tay bấu chặt lấy 2 đầu sư tử (H4) do học giả Anh James Mellart khám phá những năm 1960 ở thị tứ đặc trưng văn minh Lưỡng Hà muộn Çatal Hüyük (Thổ Nhĩ Kỳ) – nơi mật tập 1000 tòa nhà và 5000-6000 dân cư ngụ cả ngàn năm (6250-5400 năm BP), với đời sống tín ngưỡng cộng đồng phong phú liên quan đến tục thờ “Nữ thần Mẹ” có năng lực sinh sản và tái sinh ra muôn loài và cả tục hiến tế đầu bò thời Đá mới (Mellart, James, 1967; Paul G.Bahn, 1995). Ảnh xạ của tục thờ “Nữ Thần” còn đến thời Cổ đại, khi Yorgos Kentrotas tìm thấy năm 1820 trên đảo Milo pho tượng Nữ Thần Hy Lạp Tình yêu và Sắc đẹp Aphrodite – “Venus de Milo” bằng cẩm thạch cao 203cm (niên đại khoảng 130 năm BC) (H5) (từ năm 1821 được mua về trưng bày ở Viện Bảo tàng Louvre, Paris) [10] và cả hình tượng “Đức Mẹ đồng trinh Maria” (tiếng Do Thái: מִרְיָם, Miriam; tiếng Hy Lạp: παρθένος, parthénos) mang thai sinh ra người sáng lập Kitô giáo Chúa Giêsu (tiếng Hy Lạp: Χριστός, Khristos), người phụ nữ Do Thái sống ở xứ Galilea cuối thế kỷ I BC – đầu thế kỷ I AD được đặc biệt tôn kính trong đức tin Cơ Đốc giáo cả Giáo hội Công giáo La Mã lẫn Tin Lành và Hồi giáo [7; 11].
     Hình tượng Tiền sử về “Thần Mẹ” mang sự sống của muôn loài “kiểu Siberia”, Danube” trong tư duy cổ Phương Đông rất gần với “Huyền thoại noãn sinh” (Oviparous Myths) mà các học giả Hàn Quốc (Kim, B.M.ed.1982; Kim, J.B.1973) muốn kết gắn với tục thờ “Đá lớn” (Megalithic) thời Kim khí ở vành đai vĩ đại viền quanh lục địa Á châu từ Bắc (đông nam Siberia, Martime – Nga, Xích Phong – Mông Cổ, Đông Bắc Manchuria, các vùng Toàn La Đạo, Nam Sơn Lý, Ninh Viễn Quận, Bình An Đạo – Triều Tiên, Đông Bắc Chubu, Bắc Hải Đạo – Nhật Bản, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Sơn Đông, Triết Giang – Trung Quốc) đến Nam (Đài Loan, Java và Sumatra – Indonesia, Mã Lai, Ấn Độ, Tây Tạng và Tứ Xuyên – Trung Quốc, Tây Nam Á .v.v…) mà chủ nhân các xã hội này chính là “những người trồng lúa” (Rice Cultivating) vì có chung điều kiện sống và kiếm sống trên các thảm thực vật nhiệt đới – cận nhiệt đới với hạt hòa thảo quan trọng nhất cho đời sống của họ là CÂY LÚA trong quan hệ chức năng thể hiện như sau:



      Bên cạnh lý giải về tục “Thờ Đá Lớn” gắn với các tục thờ “Thần Mặt Trăng” và “Thần Mặt Trời” của cư dân trồng lúa – “những đứa con của Mặt trời” (The Children of the Sun) (Perry, W.Y. 1927), các học giả còn muốn gắn không chỉ “huyền thoại Noãn sinh” mà cả với “huyền thoại Thiên tử” (Heavenly Son Myths) gắn với sự tạo hình nhà nước sơ khởi của nhiều dân tộc Á châu thời Kim khí. Theo B.M.Kim (1982), truyền thuyết về Thiên tử - tổ tiên của người sáng lập nước bén rễ trong niềm tin của các cộng đồng người Bắc Á cổ xưa nói tiếng Altaic. Còn huyền thoại “noãn sinh” phổ biến trong thần thoại cổ Triều Tiên xuất hiện muộn hơn là tín ngưỡng cho rằng tổ tiên hoặc người sáng lập ra vương quốc được sinh ra từ quả trứng (hoặc cái hộp) – thứ tín ngưỡng xuất hiện từ thời đại đồ Đồng là thứ tín ngưỡng mới được du nhập ở miền Đông Nam bán đảo cùng với sự truyền bá của nghề trồng lúa và phong tục thờ đá. Khác với cuộc sống du cư cùng các đàn gia súc Phương Bắc, những người nông dân định cư hình thành truyền thống văn hóa riêng, cùng với Dolmen, Cự thạch và huyền thoại đẻ trứng ở miền Nam bán đảo. Cả 2 cộng đồng người với 2 mô thức sống khác biệt dần hội nhập bởi hôn nhân ngoại tộc và cuộc tiếp xúc của 2 truyền thống văn hóa lớn ở Triều Tiên diễn ra trong huyền thoại khi lớp con cháu nối dõi Thiên tử Giải Mộ Thức cưới nàng Liễu Hoa nằm trong trứng người con gái của Thượng Đế (hay Hà Bá). Theo J.B. Kim (1973), huyền thoại noãn sinh với nhiều biến thể phổ cập khắp Châu lục, từ phương Bắc (Yakuts, Maritime – Nga; truyền thuyết về vua Châu Đan (Shu – En), vùng bờ biển Đông Trung Quốc) về phương Nam (bộ lạc Bái Loan (Bai – Wan) ở Đài Loan, bộ lạc Yueh ở đảo Hải Nam, bộ lạc Munda ở Ấn Độ, các bộ lạc ở Tây Tạng và cả Châu Đại Dương) .v.v… Huyền thoại noãn sinh cũng là thể loại tín ngưỡng đặc trưng khắp vùng Đông Nam Á, từ Burma (vương quốc Mao), Thái Lan (bộ lạc Thai), Việt Nam đến Philippines, Java, Kalimantan, Sulawesi .v.v…, mà dường như tín ngưỡng cổ kính này lan truyền từ Đông Nam Á theo đường biển Nam Trung Hoa đến bán đảo Triều Tiên và miền Đông Bắc Á. Sự phân bố những công trình và kiến trúc Cự thạch ở Châu Á – từ miền Đông Bắc Á quan vùng đệm Đông Nam Á đến miền Tây Nam Á – gần như gối đầu lên không gian phẳng của huyền thoại noãn sinh của Châu Lục, đã được B.M. Kim (1982) minh giải qua đồ bản coi như là sự kết hợp “đồng thời” (thời đại Đồng thau – Sắt sớm) và “trùng nhau” (không gian phân bố môi sinh nhiệt đới – cận nhiệt đới) giữa văn minh nông nghiệp trồng lúa (văn hóa vật chất) và huyền thoại noãn sinh trong thế giới tinh thần – tín ngưỡng tiền sử và sơ sử (H6).
      Các học giả cũng tin rằng huyền thoại noãn sinh cũng tương hợp với nền văn hóa – văn minh kim khí Đông Sơn ở Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ Việt Nam (Kim, J.B., 1973; Kim, B.M., 1982), nơi mà kho tàng văn hóa dân gian phong phú của nhiều dân tộc, có không ít truyền thuyết nói về nguồn gốc các tộc người tương tự huyền thoại noãn sinh của Á Châu. Ví như, các truyện kể về “Quả bầu mẹ” từ trong đó sinh ra các tộc người, truyện kể về “đôi chim thần đẻ trứng trăm, trứng nghìn”, nở ra người Việt, người Mường, người Xá, người Thái, người Lư .v.v…, truyện kể về “bọc trứng nở trăm trai” của người Việt, với 50 người con theo cha Lạc Long Quân về miền đồng bằng và vùng ven biển lập nghiệp để trở thành người Việt, 50 người con khác theo mẹ Âu Cơ lên rừng sinh sống để trở thành nhiều dân tộc thiểu số anh em khác (UBKHXHVN. 1971 – Phạm Đức Mạnh, 2011).
      Đó cũng là cội rễ của mọi tục thờ “Thần Nữ” – “Thần Mẫu” và “Thánh Mẫu” – “Mẹ Trời” – “Mẹ Đất” – “Mẹ Nước” – “Mẹ Lúa” – “Mẹ Rừng” – “Mẹ Núi” trong tâm thức tín ngưỡng Việt cổ như các “Bảo Dân Hộ Quốc Thánh Mẫu” kiểu “Mẹ Âu Cơ” sinh ra dân tộc, “Mẫu Đệ nhất Thiên Phủ Liễu Hạnh”, “Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ Thượng Ngàn”, “Mẫu Đệ tam Thoải Phủ”, “Mẫu Đệ tứ Địa Phủ” .v.v… [6]. Sự hiện diện của cả “Mẹ Thánh Gióng” – người anh hùng đầu tiên mặc giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đuổi giặc giữ nước đi vào huyền sử “kiểu Việt” như vậy thường ở thời điểm sơ kỳ Sắt – khi thứ kim loại “cách mạng” này còn được không ít tộc người thần thoại hóa như là “thiên thạch”, vì thế có thể tin vào niên biểu “văn hóa sơ kỳ Sắt Đông Sơn” (thế kỷ VIII BC – thế kỷ I-II AD) của tục thờ “Mẹ Thánh Gióng” và huyền thoại noãn sinh mà các học giả Hàn quốc từng đề xuất, rồi sau đó, hiển nhiên, sẽ biến chuyển với đủ biến tướng “Mẹ Xứ sở” qua từng cộng đồng tộc người và ở mỗi trường đoạn lịch sử.
Đã có nhiều học giả bàn luận, thậm chí chuyên khảo về “Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu” với chất bản địa – các yếu tố “nội sinh” (endogenous elements) và chất “ngoại sinh” (exogenous elements) từ Phật giáo và Đạo giáo, từ đủ nguồn liệu thần tích, thần phả, thần thoại, huyền sử, hát văn, diễn xướng và lễ hội dân gian, khắc họa nền chung thế giới quan – nhân sinh quan, triết lý và đạo lý sống chung của cư dân trồng lúa Châu lục, đồng thời muốn minh định “hằng số chung” của tín ngưỡng mà ở đó muốn chung đúc khuôn hình của NGƯỜI MẸ VIỆT NAM không chỉ có quyền năng bào thai, “mang nặng đẻ đau” và dung dưỡng con người mà còn có đủ “công dung ngôn hạnh” cùng những ước vọng cháy bỏng thoát mọi ràng buộc “tam tòng” Nho giáo phong kiến .v.v... Cũng hiển nhiên từ đó – từ “Tháng Ba (3/3) giỗ Mẹ”, người ta nhận chân biến tướng của tín ngưỡng Mẫu qua từng thời và từng miền – vùng văn hóa đất nước và các đặc điểm riêng của “ban mẫu” – “đền mẫu” của mỗi cộng đồng tộc người, từ các hình thức thờ “Mẫu thần” (Quốc mẫu, Vương Mẫu), Thánh Mẫu (Ỷ Lan nguyên phi, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh Nương), Tam Phủ – Tứ Phủ (thờ ba mẫu: Trời – Đất – Nước – Thánh Mẫu Liễu Hạnh) ở Bắc Bộ; thờ Nữ Thần (Tứ vị Thánh Nương, Bà Ngũ Hành) và Thánh Mẫu (Thiên Y A Na, Po Nagar) ở Trung Bộ và thờ Nữ Thần (Tứ vị Thánh Nương, Bà Ngũ Hành, Bà Thủy Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô) và Mẫu Thần (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu) ở Nam Bộ (Nguyễn Đức Toàn, 1994; Ngô Đức Thịnh, cb. 1996-1997; Nguyễn Hữu Thông, cb.2000; [1-2; 9; 14-15; 20-21; 23]).
      Nhưng tín ngưỡng “Thờ Mẫu” và “Thờ Thần Mẫu” Nam Bộ hình thành theo tiến trình cư trú và khai phá của người Việt và cả người “Việt gốc Hoa” thời Trung và Cận đại mang các sắc thái rất riêng nơi “Đất rừng Phương Nam” rất khác với chính tộc Việt ở “nguyên quán Bắc Bộ – Trung Bộ”. Trước hết, đó là sự “Việt hóa”nhiều hiện tượng lịch sử bản địa sẵn có, hiển thị chính trong các nguồn di sản vật thể và cả phi vật thể, khi đa phần đình chùa miếu điện của người Việt và cả “Việt gốc Hoa” ở môi trường sông nước châu thổ Nam Bộ thường kiến tạo trên chính nền móng các phế tích đài điện Hindu giáo trước đó, thậm chí cả tượng thờ cũng vậy.
      Đó là các phế tích gạch, tấm đan đá phiến, mi cửa, cột đá, tượng thần Hindu và Phật ngồi, Linga-Yoni, bệ thờ, bàn nghiền pesani, máng nước thiêng, bia ký bằng sa thạch.v.v... thuộc truyền thống văn hóa Óc Eo – hậu Óc Eo (thế kỷ I – X AD) mà L.Malleret (1959-1963) và các nhà khảo cổ Việt Nam ghi nhận trong nhiều đình chùa hậu sinh ở cả miền Đông (Tây Ninh: Cổ Lâm Tự; Đồng Nai: Đình Tân Lại; Tp.HCM: Gò Chùa Phụng Sơn .v.v…) lẫn miền Tây Nam Bộ (An Giang: các chùa Phước Cô, Phước Sơn, Giác Hương, Thạch An, Vát Thiên, Linh Sơn, Bình An Long Xuyên, , Sơn Tô, Cai Kiên Núi Sập, đình Tri Tôn và các miếu Cô Hồng, Cô Bảy Giếng Châu Đốc, Chùa Bà Vãi Đạo Cao Đài Tịnh Biên; Kiên Giang: các chùa Phật Lớn, Phật Nổi; Trà Vinh: các chùa Tháp Trà Cú, Lò Gạch Châu Thành, Giữa Cầu Kè, Cây Hẹ Tiểu Cần, Trà Kháu; Cần Thơ – Cà Mau: các chùa Sóc Trăng – Tân Thọ, Ông Bổn, miếu Hoàng Tử Cảnh, đình Mỹ Huệ; Tiền Giang: các chùa Bà Kết Chợ Gạo, Bửu Tháp Cai Lậy; Đồng Tháp: các chùa Trước, Tám Ấn, Phước Thiện, Cây Điệp, Tháp Mười Cổ Tự và Linh Miếu Bà; Long An: các chùa Đất Long An, Cổ Sơn, Linh Nguyên Đức Hòa, Rạch Núi Cần Giuộc, Gò Mộc Hóa .v.v...). Bên cạnh các pho tượng nữ thần Hindu còn giữ nguyên 4 tay tựa vào vòng cuốn sa thạch (Phước Cô Tự) và các tấm bia ký nguyên Phạn ngữ thờ vua Sri Nripaditya vào đầu thế kỷ VIII đặt bên chính điện (Linh Sơn Tự) hoặc bia làm tấm đan lát cửa Lăng Thoại Ngọc Hầu, còn có tượng nữ thần búi tóc hình nón đội vương miện cài sau đầu đeo 2 vòng hạt thời “hậu Óc Eo” đã được biến hóa thành nữ thần Việt Nam với mặt quét sơn, vương miện thếp vàng, thân hình để nguyên phủ đầy tơ lụa và đồ nữ trang giả (Sơn Tô Tự) và cả tượng thần Shiva đồng đỏ gắn lại 2 tay gẫy quét son thờ chung với đại tượng Phật Tổ Như Lai cùng hơn 140 pho tượng Phật bằng gỗ và đồng, các tượng Ngọc Hoàng, Thần Nông, Tiên Đế, Phật Thầy Đoàn Minh Huyền – sư phụ của “Bửu Sơn Kỳ Hương” thế kỷ XIX ở Tây An Cổ Tự sát cạnh Miếu Bà Chúa Xứ.
      Thí dụ rõ nhất của xu hướng “Việt hóa” có thể lấy chính toàn bộ quần thể dành riêng cho thờ “Thần Mẫu” Nam Bộ như Miếu “Bà Chúa Xứ” (“Bà Xửa Xứ” = Bà Mẹ Xứ Sở) chẳng hạn, đối sánh với kiến trúc đồng loại lớn nhất Bắc Bộ thờ ¼ tứ bất tử – Chúa Liễu Hạnh kiểu Phủ Giầy (Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Đền Sòng (Thanh Hóa), chúng ta có thể tách lọc rất nhiều điểm khác biệt từ quy mô công trình đến phối trí điện thờ, diễn xướng dân gian .v.v...
     Miếu Bà Chúa Xứ (11°869 Vĩ tuyến Bắc – 114°153 Kinh tuyến Đông) thoạt kỳ thủy (1820-1825) được cất đơn giản từ tre lá trên vùng đất phía tây bắc Núi Sam ở bậc thềm dưới phía tây Tây An Cổ Tự, tượng Bà đặt quay lưng về vách núi, chánh điện nhìn xuống đồng trũng. Năm 1870 xây lại bằng gạch và hồ ô dước và từ 1972-1976 xây dựng đồ sộ theo thiết kế của Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng quy hoạch chữ “Quốc” hình khối tháp, mái tam cấp ba tầng lầu lợp ngói đại ống màu xanh biếc, góc cong vút, kiến trúc chung mang phong cách trang trí và điêu khắc tổng hòa nhiều phong cách văn hóa Việt, Khmer, Hoa, Champa, Ấn Độ và tam giáo… Bên cạnh những họa tiết hoa văn dân dã quen thuộc của Nam Bộ như cây, lá, chim, thú…, nghệ thuật chạm gỗ trong chánh điện khá cầu kỳ với các motype tứ linh, bát tiên, những vị thần to khỏe giang tay đỡ đầu kèo nối tường .v.v… Chánh Điện thờ Tượng Bà chính giữa bên cặp bàn thờ “Tiền hiền khai khẩn” và “Hậu hiền khai cơ” (Hội VHNT Châu Đốc, 2006; UBND An Giang, 2007).
      Theo nhà khảo cổ Pháp L.Malleret (1959), trong miếu còn lưu các cổ vật có điêu khắc như: 1 tượng “Bà Chúa Xứ” (nguyên thủy cao 1,65m) đã được L.Malleret phác họa, khảo tả năm 1941 và giám định là pho tượng nam thần được tạo ở tư thế ngồi nghỉ ngơi dáng người quý phái vẻ “đế vương” có thể thuộc về thời kỳ Óc Eo (tiền Angkor); 1 tượng Linga bằng đá sa thạch xám hạt mịn lớn, cấu tạo gồm 3 phần, có kẻ 1 con mắt ở đường chỉ phân rõ 3 phần được thờ ngay bên trái tượng Bà Chúa Xứ (bàn thờ “Cậu Quý”) (bên phải tượng Bà thờ 1 tượng thần gỗ nhỏ – bàn thờ “Cô”); 2 bệ Yoni bằng đá trầm tích hạt mịn màu xanh đen và bằng sa thạch mịn; 3 đá kiến trúc bằng sa thạch với 1 thanh đá dài bị gẫy 2 đầu và 2 tiêu bản gần giống như bia đá; 1 bàn nghiền Pesani bằng sa thạch đỏ, bị vỡ mất 1 đầu, dài 32cm (theo L.Malleret hiện còn bảo tồn trong ngôi chùa nhỏ bên cạnh Miếu Bà Chúa Xứ) – những di tích thuộc về truyền thống văn hóa Óc Eo – “hậu” Óc Eo phổ cập ở xứ này (H7-8).
      Điều đáng quan tâm hơn ở miếu Bà Chúa Xứ với Lễ hội Vía Bà hình thành như một sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng lớn nhất ở miền Nam rất đặc sắc xứ này. Đại lễ Vía Bà khởi sự từ lễ “Mộc dục” (Tắm Bà) vào 0h đêm 23/4) và lễ “Thỉnh Sắc” (4 bài vị của Thoại Ngọc Hầu, 2 bà chánh phẩm Châu Thị Vĩnh Tế và nhị phẩm Trương Thị Miệt, cùng bài vị Hội đồng) từ Lăng Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà Chúa Xứ (chiều 24/4). Chính lễ bắt đầu từ lễ Túc Yết (đêm 25/4), sau là các lễ Xây Chầu, Đại Bộ, với lễ dâng Bà chính là heo quay và bài văn tế thỉnh rất nhiều thánh thần tứ phương (Chúa Ngung Man Nương, Thạch Trụ Cô Nương, Nặc Tà A Rặc, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Thất Vị Thánh Mẫu, Tứ Vị Thánh Nương, cả Khổng Tử, Nhị Vị Công Tử .v.v…) về ngự bàn thời hội đồng để “đông lai phối hưởng”. Chiều 26/4 bắt đầu lễ hội Sắc – đưa các bài vị đã “Thỉnh” từ Miếu Bà Chúa Xứ trở về Lăng Thoại Ngọc Hầu, kết thúc “Lễ hội cấp Quốc gia” (từ 2001) – lễ hội tín ngưỡng dân gian lớn bậc nhất ở đồng bằng sông Cửu Long xưa nay và, cùng với “Hội Chùa Hương” tháng Hai lịch Trăng phía Bắc, là lễ hội lớn nhất nước, thu hút vài triệu lượt khách hành hương cả đạo lẫn đời.
      Đại lễ Vía Bà là đại lễ điển hình trên nền tín ngưỡng “Thờ Mẫu – Thần Nữ” cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ thấm đẫm chất giao hòa nhiều tín ngưỡng dân tộc anh em khác – tiêu biểu bậc nhất cho “Những Bà Mẹ Xứ sở” là “Chúa Xứ” có mặt ở ngay nhiều di tích thuộc Phức hệ văn hóa Óc Eo thời Cổ sử như: Đá Nổi – Thoại Sơn (An Giang), Nền Chùa (Kiên Giang), Gò Tháp Mười (Đồng Tháp) .v.v. Các huyền thoại bản địa phủ quanh về pho tượng thoạt kỳ thủy phát hiện trên đỉnh núi Sam (còn bệ “Yoni” đá trầm tích xanh đen 160cm, lỗ vuông cạnh 34cm), nhờ “Vía Bà Chúa Xứ Châu Đốc” bày cho 9 cô gái đồng trinh khiêng xuống, dựng miếu chọn ngày xuống giống làm mùa tháng Tư làm lễ “Vía Bà” mong phù hộ bội thu và cả yên lành xứ biên cương thời “Quan bảo hộ Thoại Ngọc Hầu” mở đường, đào kênh, lập ấp. Miếu Bà xây cất khang trang hơn nhờ chánh thất phu nhân Châu Thị Tế “tạ ơn”.
      “Bà Chúa Xứ là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực đó, xứ đó”, “Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên Chùa Tây An (do Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn (1795-1850) cho xây 1847 hàm ý đuổi giặc xâm lấn trấn yên bờ cõi phía tây), nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ XIX, Miễu hãy còn khiêm tốn…” “Đây là dạng tu tiên, một dạng như Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc Liễu Hạnh Công chúa… nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí Miễu Bà bên Núi Sam hội đủ: sông rộng, đồi núi trập trùng, người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào “sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi” (Sơn Nam, 1985, 1987, 1992).
      Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa... Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như Tiên Nữ Đạo Cao Đài “Khiết Cửu Nương”, "Phật Bà Quan Âm" (đối với người Việt), "Bà Mã Hậu" hay "Thiên Hậu Nương Nương" (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về "quyền lực linh thiêng" của Bà trong việc "ban phúc, giáng họa" cho con người, hình thành các tục “xin xăm – vay tiền – thỉnh bùa Bà”, để được Bà ban phúc: “Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị. Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng” (求必應試必霛夢中指示, 暹可驚清可慕意外難量) (dịch nghĩa cặp liễn chánh điện: Cầu thì được, ban thì linh, báo trong giấc mộng. Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, ý tứ khôn lường) (UBND An Giang, 2007; [5; 13]).
      Các huyền thoại kiểu này cũng phủ kín nhiều di sản Nam Bộ tiêu biểu khác. Ví như, ở vùng “địa – linh kiệt” Tây Ninh – nơi có ngọn núi đá hoa cương nhuốm đầy huyền thoại Một (cao độ 986m/mực nước biển) “có đồ xưa bằng vàng ngọc, người ta thường đào được” (Trịnh Hoài Đức, 1972) và Đền “Bà Đen” (La Dame Noire), điểm thường niên mà kiều dân Ấn Độ từ Sài Gòn – Tp. Hồ Chí Minh đến hành hương tôn sùng nữ thần Kali từ hàng thế kỷ nay (Malleret, 1963). Song Đền còn tên “Linh Sơn Thánh Mẫu” truyền thuyết Việt về nàng Lý Thị Thiên Hương (Cô Đen Trảng Bàng) từng quyên sinh rồi hiển linh ban phước dân lành, thiện tín mười phương. Có chuyện kể về mối tình Cô Đen thủ tiết với chàng Lê Sỹ Triệt (lính Tây Sơn của Nguyễn Huệ trong một dị bản, lại là quân Võ Tánh phò Gia Long trong di bản khác), Cô Đen được chính Thượng quốc công Lê Văn Duyệt thay vua phong chức vị “Linh Sơn Thánh Mẫu” [3-4; 8; 12; 16; 18-19; 22] (H9-10).
      Người ta còn nhắc sự tích núi Bà Đen (Huỳnh Minh, 1972) để gán cho vị Vua triều Nguyễn duy nhất “tưởng tượng ra truyền thuyết để thu phục những thủ lĩnh và nhân dân người các nhóm sắc tộc”, về “một niềm tin phổ biến trở thành huyền thoại về một hồn ma của người con gái thỉnh thoảng hiện lên trong giấc mơ của Nguyễn Phúc Ánh để giúp ông đánh lại quân Tây Sơn” (Choi Byung Wood, 2011: 64).
      Các “Bà Mẹ Xứ sở” được thờ mọi vùng đất mới dẫu không còn “Tam tòa, Tứ phủ” nơi nguyên quán, vẫn còn những Cửu Thiên Huyền Nữ, Địa Phủ, Thủy Phủ trong hình hài các Bà Chúa Xứ, Chúa Hòn, Chúa Động, Chúa Ngọc, Ngũ Hành Nương Nương, Bà Thủy, Bà Hỏa, có cả Bà Mẹ Lúa ban nguồn sống con người và cả Phật Bà Thiên Hậu cứu khổ cứu nạn cho kẻ phải tha hương trên đại dương (Vía Bà 23/3 ở người Hoa) .v.v…, mà “Ở Nam Bộ, nhà nào cũng có miếu thờ Bà Chúa Xứ, đặt ở góc nhà hoặc góc vườn. Trong rừng U Minh, người dân đốn củi, lấy mật ong cũng thờ Bà Chúa Xứ, để cầu mong được mạnh khỏe, tránh được sốt rét, tránh rủi ro trong nghề nghiệp” và tục này còn hiển thị trong các đình thờ “Thần” Nam Bộ xưa nhất, biến cải lối bài trí “tiền Phật – hậu Mẫu” truyền thống mà bày cặp ban bên “Tả Nam” (thờ tượng Quan Thánh Đế Quân) và “Hữu Nữ” (thờ Kim Hoa Thánh Mẫu và 12 bà Mụ – Mẹ Sanh Mẹ Độ), cùng cặp ban thờ “Thiên Phụ” cạnh “Địa Mẫu” ở tiền đình. Ví như, phối trí nguyên thủy ở đình Lý Nhơn (Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh) thờ “Thần Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân đã có công giữ nước giúp dân rạng rỡ công đức” (Sắc phong năm Minh Mạng thứ 5 (7/1825), lại còn mang danh: “Đình Nam Tiến”, gắn liền cả bài vị thờ “Thống suất Lễ Thành hầu Thượng đẳng thần” làm ta liên tưởng đến buổi đầu di dân Việt từ Quảng Bình, Thuận Quảng vào Gia Định và Nam Bộ .v.v… (Phạm Đức Mạnh – Trần Hồng Liên, 1997).
      Đây cũng là điểm đặc thù của tục thờ “Bà Mẹ Xứ sở” mà từ xưa Trịnh Hoài Đức (1820) từng ghi nhận: “Dân chúng theo Đạo Phật hoặc theo thần thánh, phần lớn các vị thần này đều là nữ giới như Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Dong, Bà Hoa Tin, Bà Thủy Long, Cô Hồng, Cô Hạnh… Người ta thờ Táo Quân biểu hiện dưới hình thức ba vị: Vị nữ ở giữa và 2 vị nam 2 bên”; cho đến nay, Philip Taylor (2004) – khi đối sánh với 75 nữ thần khác được tôn thờ ở Việt Nam đã cho rằng: “Việc thờ các nữ thần ở miền Nam hơn các nơi khác trên đất nước” mà ở đó, dù vẫn có "những dấu hiệu rõ rệt của sự trường tồn của truyền thống và bản sắc văn hóa của đất nước. Bà Chúa Xứ vừa là một vị thần được địa phương hóa cao độ, và đồng thời là trung tâm của việc thờ phụng vượt ra khỏi phạm vi địa phương, và thậm chí quốc gia”.
      Nhiều luận điểm của GS Đại học Quốc gia Úc Philip Tylor còn cần thảo luận, ví như các ảnh hưởng đến “hành vi tôn giáo” kiểu này từ các nhóm tộc người phi Việt, đặc biệt Hoa, Champa và Khmer mới hòa nhập vào đế chế Nguyễn từ thế kỷ XV-XIX và quan trọng hơn còn là những “thay đổi kinh tế xã hội” với quan hệ thị trường phát triển cao ở “khu vực thương mại năng động nhất nước” và các nữ thần "là biểu tượng cho những quan hệ thị trường" bởi vì, theo P. Taylor, sự thờ phụng họ "dựa trên quan hệ giao dịch (transaction-based), và bao hàm những mối quan hệ thân mật với một vị thần, mà quan hệ ấy chịu ảnh hưởng của sự qua lại và những kết quả mang tính chất thương lượng với nhau". Những mối quan hệ ấy đặc biệt hấp dẫn đối với các phụ nữ thành thị, những người đã ở tuyến đầu trong công cuộc biến đổi kinh tế ở miền Nam (Philip Taylor, 2004; [17]).
      Cá nhân tôi, chuyên khảo về mộ Quý tộc ở Việt Nam, có thể đồng ý ngay với ông ở luận thuyết rằng: sự phổ biến tục thờ Mẫu xứ này thời Trung & Cận đại liên quan hữu cơ đến chính vị thế của “Người Phụ nữ” trong gia đình và xã hội Nam Bộ “Từ thuở mang gươm đi mở nước” – điều khu biệt với chính vị thế “Người Phụ nữ” trong xã hội Bắc Bộ và Trung Bộ lúc đương thời.
      Các nguồn liệu cổ mộ Quý tộc Việt Nam dễ dàng đưa tôi đến các nhận thức rằng: Với hơn 500 mộ hợp chất hiện biết khắp Bắc, Trung, Nam, có thể khẳng định loại hình di tích mộ hợp chất là “đặc sản” của truyền thống mai táng Việt dành cho tầng lớp trên của xã hội đương thời dàn trải từ thời Lê đến thời Nguyễn trong khung niên đại từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX. Truyền thống này khởi phát từ vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, lan truyền vào miền Nam Trung Bộ ngay thời Chúa Nguyễn xác lập Đàng Trong và cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ từ thế kỷ XVIII và phổ cập từ thời Chúa Nguyễn Phúc Ánh đăng cơ trong thế kỷ XIX.
      Trong thống kê chung của tôi (2014), số lượng mộ hợp chất lớn nhất đất nước chính là vùng Nam Bộ (với 317 di tích = 54,6%) và Nam Trung Bộ (203 di tích = 34,8%); trong khi vùng khởi phát dạng mai táng đặc thù này – Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ chỉ có 62 di tích (10,6%). Trong 195 di tồn mộ hợp chất Nam Bộ, kiểu thức phối trí mộ song táng chiếm số lượng đáng kể (53 di tích) dành tôn vinh những bậc “Tiền hiền” (前賢) từng dày công “Khai cơ” (賢開) mở cõi “Đất rừng Phương Nam”), với đa phần mộ đức ông “danh gia vọng tộc” quyền uy bậc nhất xứ này (Tổng trấn Lê Văn Duyệt; Công hầu Võ Di Nguy; Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức; Thoại Ngọc Hầu; Điều bát Thống chế Nguyễn Văn Tồn .v.v…) nằm kế bên chánh thất phu nhân chính là thông điệp tôn vinh “Hiển Tỷ” (顯妣) = “Mẹ đã khuất” ngang bằng với “Hiển khảo” (顯考) = “Cha đã khuất” trong tình cảm Việt truyền thống “Uống nước nhờ nguồn” và đạo lý Việt “Thờ cúng Tổ Tiên” nhưng mang sắc thái của riêng Nam Bộ – điểm không hề có trong mộ hợp chất Đàng Ngoài với tuyệt đại đa số kiến thiết cho đơn táng (53 di tích = 96,4%), nơi mộ đức ông tách biệt hẳn với các phu nhân.
      Sự tôn vinh cá nhân tài đức “phò Chúa” và “Hộ tí cứu dân” trong lịch sử mở nước và rào dậu phên chắn “Đại Nam nhất thống” thời Chúa và Vua Nguyễn ở tận cùng đất nước cả nam lẫn nữ chính là đặc trưng nổi trội của nhân cách Nam Bộ đương thời – đặc trưng lấn át tất cả đặc điểm tiểu tiết “phá cách” và “bất tuân luật lệ triều đình” ghi nhận chính trong lăng tẩm hợp chất xứ này, ngay từ danh xưng (như tội triều đình quy cho chính quan Tổng trấn Gia Định Thành dám gọi mộ mẹ bằng “Lăng” (陵) – danh từ chỉ được phép dùng cho “ngôi nhà vĩnh cửu” của Vua và Hoàng hậu (nhưng dân Nam Bộ đương thời và hậu thế vẫn dám gọi chính mộ ông và phu nhân là “Lăng Ông Bà Chiểu”); đến quy mô cực lớn, tùy táng xa hoa đều “vượt chuẩn” trong Hội Điển .v.v… – cũng là các “ngoại lệ” phạm thượng không dễ thấy trong lịch sử quân chủ Phong kiến Việt Nam ở cả hai thế kỷ XVIII-XIX.
      Ngay cả thời Vua Minh Mạng nối ngôi và dần muốn “giải thể quyền lực Gia Định”, vẫn còn những quyết định Triều đình tôn vinh các kỳ tích ở xứ này. Ví như, khi hoàn tất dòng kênh nối Long Xuyên về Rạch Giá, Thoại Ngọc Hầu được Gia Long cho lấy tên mình đặt cho núi (Thoại Sơn) và kênh (Thoại Hà); còn khi hoàn tất dòng kênh dài gấp 3 lần nối sông Châu Đốc đến vịnh Thái Lan, chính vua Minh Mạng cho lấy tên chánh thất Châu Thị Tế đặt cho núi Sam (Vĩnh Tế Sơn) và kênh mới (Vĩnh Tế Hà). Vua còn cho ông khắc bia “VĨNH TẾ SƠN” đặt trên Núi Sam, chủ trì lễ tế cô hồn dân binh chết vì kênh ấy (1828), lại cho khắc hình kênh Vĩnh Tế vào Cao đỉnh (1835).
      Sự tôn vinh Phụ nữ ở Nam Bộ quả là điều chưa từng thấy trong bối cảnh triều đình phong kiến cả ngàn năm Nho giáo và chính ý niệm này cũng hiển thị trong thiết kế mộ phần song táng nổi trội ở xứ này mà vắng bóng ở Đàng Ngoài với nguyên tắc phổ cập “Tả Nam Hữu Nữ” với kiến trúc dương phần và cả âm phần đa phần như nhau (các mộ bà: chánh thất Lâm gia, phu nhân Trịnh Hưng Kim, Nguyễn thị Cung nhân Trần môn, Ngô Đại Nghiệp, Hồ Khôn Thừa, phu nhân Trần Đôn Nhã, Trần Thị Hiệu, Thái Trương Thu, Huỳnh phu nhân, Chánh tứ phẩm Cung nhân Lương trinh thục, bà Lê Thị Mười - phu nhân Công hầu Võ Di Nguy, bà Đỗ thị Phẫn – phu nhân Tổng đốc Lê Văn Duyệt (H11) ở Sài Gòn – Gia Định; Bà họ Lê chánh thất phu nhân Trịnh Hoài Đức (H12); bà họ Trương Cung nhân Lãnh công Đoan Lượng; Đoan cung Hoàng phu nhân; bà vợ quan Đồ Tổ Hán ở Biên Hòa; bà Bá hộ Hạ Quang Quới ở Bình Dương; Hiền thục Phu nhân Thống Chế Nguyễn Văn Tồn ở Trà Ôn, bà Trương Thị Gương phu nhân Thành hoàng “Tiền hiền” Lưu Đức Loan ở Tam Bình – Vĩnh Long, chánh thất Châu Thị Tế và thứ thất Trương Thị Miệt của Thoại Ngọc Hầu ở Núi Sam (H13); các phu nhân Mạc Tử Khâm, Cai hợp Trương Huệ Đức, Chiêu vũ Thượng Tướng quân Nguyễn Trực, Trần Khắc Hoàng ở Hà Tiên .v.v…), thậm chí có bia mộ còn khắc chung cả tên ông lẫn bà, cả chánh lẫn thứ thất (như bia mộ Mạc Bá Bình và vợ, Cai đội Vũ Thế Danh cùng 2 vợ ở Bình San …).
      Chính vai trò Phụ nữ can trường xứ này từng hiển thị ở nhiều bộ Sử Nguyễn, điển hình là bà phu nhân của “Bình Tây Đại nguyên soái Trương Công Định” – “một liệt nữ bốn lần vươn cao trong số phận” (Cao Văn Sáu, 2005); hoặc phu nhân tri huyện Trà Vang Bùi Hữu Nghĩa là Nguyễn Thị Tồn, đã quá giang ghe bầu, vượt sóng gió ra Huế và theo lời khuyên của Thượng thư Bộ Lai Phan Thanh Giản, bà đến Tam pháp ty “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng; được vua Tự Đức tha tội chết cho chồng; còn bà được chính Hoàng Thái hậu Từ Dũ ban cho tấm biển chạm 4 chữ vàng “Tiết phụ khả gia”. Hiền phụ lâm bệnh mất ở Biên Hòa khi Bùi Hữu Nghĩa đang chốn biên thùy, ông tế vợ bằng cặp đối chữ Hán: “Ngã bần, khanh năng trợ; ngã oan khanh năng minh, triều dã giai xưng khanh thị phụ. Khanh bệnh, ngã bất dược; khanh tử ngã bất táng, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu” (Dịch nghĩa: “Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ. Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất; non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng”).
      Sự nổi trội các quy hoạch khuôn viên dành riêng cho từng cặp vợ chồng (thông thường là Người Chồng nằm kế bên Chánh thất) – mộ thứ thất cũng trang trọng không kém minh định rõ ràng tính cách đặc thù Nam Bộ trong ứng xử phá bỏ các rào cản Nho giáo ở xứ này, giảm thiểu không ít tư tưởng “Trọng Nam khinh Nữ”. Và đấy cũng chính là điểm khác biệt rất rõ ràng vị thế Phụ nữ dù quyền quý ở Đàng ngoài đơn chiếc sang “Thế giới bên kia” mà nhà khảo cổ từng xác thực ở khu “Hai vợ Vua” Thái Phù (Vĩnh Phúc), “Bà Chúa Phạm Gia” ở Gia Khánh (Hải Dương), Hoàng hậu Dương Thị Bi vợ Vua Lê Thánh Tông ở Nhân Giả (Hải Phòng); chánh thất Thượng tướng quân Nguyễn Thị Tiệm ở Lai Xá (Nam Định); Bà Phi dòng họ Trịnh ở Dân Lực (Nông Cống); Bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Nguyễn Hoàng, cháu gái Triệu tổ Nguyễn Kim, vợ Trịnh Tráng ở Hà Long (Thanh Hóa) .v.v… Thậm chí, các nhà khảo cổ học còn phát hiện mộ của Thiếu Bảo Ứng Quận Công Đặng Đình Tướng (mất năm 1735 chôn riêng ở Vĩnh Lữ) nhưng chánh thất Bùi Thị Khang (mất 1714) chôn ở Thượng Lâm – Mỹ Đức (Hà Nội) còn thứ thất Phạm Thị Nguyên Chân lại chôn ở Vân Cát – Kim Thái (Nam Định) (Đỗ Văn Ninh, 1970, 1971).
      Bên cạnh sự hiện diện của ‘bên hữu” trong quy hoạch lăng tẩm song táng, các mộ Nữ quý tộc Nam Bộ đơn táng cũng có không ít điểm khác lạ và “phá cách”, có đủ khuôn viên với uynh thành, nữ tường, bình phong tiền – hậu, trụ biểu, nhà mồ và nhà bia đồ sộ kiến tạo từ hàng trăm tấn hợp chất, có lược đai vàng, vòng vàng và hoa tai vàng (Mộ Bà chánh thất Tham tri Bộ Hộ Võ Thục Nhân trong khuôn viên Viện Pasteur, Quận 3; Mộ Bà Trần Thị Hiệu ở Xóm Cải, Quận 5 .v.v…). Có mộ – như mộ Bà ở Cầu Xéo (Long Thành – Đồng Nai), nấm mồ không bé nhỏ như các mui luyện “mu rùa” (hay “nửa trứng úp”) mà lại bề thế đồ sộ như hình “voi phục” của các ngôi mộ quý ông Nam Bộ, với đủ biểu tượng cao quý “Rồng – thái dương & Phụng – Thái âm”, Lân – nghê ứng với qui (Thiếu dương) tượng trưng vũ trụ; thậm chí bia mộ bà còn được khắc chữ “Hoàng” (皇) là phát hiện duy nhất ở Việt Nam (H14) và chỉ thấy chữ “Hoàng” in trên gạch xây ông nội và cha của Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng (1764-1825) - thân sinh Từ Dũ Thái hậu và là ông ngoại vua Tự Đức trong lăng Hoàng Gia Gò Công-Tiền Giang.
      Với nhiều đồ tùy táng quý chôn theo như tiền vàng, thỏi bạc, tiền đồng thời Tây Sơn Nguyễn Nhạc, tiền Trung Hoa, tiền vàng bạc Bồ Đào Nha – Tây Ban Nha, tiền kê ngân (Phạm Hữu Công – Ngô Quang Láng, 2013), trang sức ngọc ngà, hoa tai vàng nạm đá quý, vòng tay vàng đặc, lược đồi mồi đai vàng, khánh phụng bạc, có cả “đồ ngự dụng” (ống và xoáy trầu cau bạc mạ vàng) xác thực thân phận Nữ quý tộc cao sang Nam Bộ, dưới danh xưng vợ quan Triều Nguyễn (“Cung Nhân”, “Nhụ Nhân”, “Thiện Nhân”, “Thục Nhân”, “Nghi Nhân” …) và các danh hiệu được vua ban tặng vì “Đoan chính”, “Đoan cung”, “Trinh thuận”, “Trinh liệt”, “Trinh thục”, “Toàn thục”, “Ỷ Đức” (H15-17); rất tương đồng với hiện tượng “cúng vàng” cho các “Bà mẹ Xứ sở” như “Bà Chúa Xử” ở Núi Sam, “Thiên vương Thánh Mẫu” Bà Đen ở Tây Ninh, đền Bà ở Bình Dương .v.v… và cũng là điều không hề có ở mộ nữ Đàng Ngoài, kể cả các hoàng hậu, vợ chúa, công chúa “lá ngọc cành vàng” thuở bấy giờ (Phạm Đức Mạnh, 2001, 2006, 2007; Phạm Đức Mạnh – Nguyễn Hồng Ân, 2011; Phạm Đức Mạnh – Nguyễn Chiến Thắng, 2013).
      Sự tôn vinh Phụ Nữ hiển thị trong lăng tẩm và tùy táng phẩm quý tộc Nam Bộ vẫn còn ảnh xạ về sau trong “Du ký viết về Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX” với “hình ảnh người Phụ nữ Nam Bộ có những nét khác biệt, toát lên một ý chí thật mãnh liệt, dám dấn thân đương đầu với thử thách”. Từ hình mẫu nữ đại điền chủ Phú An giàu “Nhất” Sóc Trăng trong tục ngữ, đến hình ảnh “một bà già 59 tuổi, đã mạo hiểm ra hòn ở một mình, đã hai năm rồi, khai phá một chỗ hoang vu trở nên một nơi sáng sủa, có vườn tược, hoa quả. Một mình ra ngoài biển khơi lặn ốc, một mình với một chiếc thuyền con, bơi từ hòn này qua hòn nọ. Cho hay “hữu chí cánh thành” mà “có tin thì lấp biển cũng không lâu” và “cógan trời cũng thua người”; đến “Cô Tám ở Chợ Lớn”“khá khen đàn bà góa bụa, mà chí khí chẳng kém chí trai; một tay mà gầy dựng gia sản kinh đinh, lớp lo gánh hát, lớp lập vườn, hèn chi tiếng tăm nổi dậy” và cả “Bà Tổng đốc Chợ Lớn” có “đại công đại đức với bá tánh vô cùng” khi xin Nhà nước khai đắp đường quan lộ vô đến chân núi Điện Bàn. Do sống trong môi trường mới sát cánh cùng nam giới khai phá vùng đất hoang vu với nhiều quan niệm thoáng mở, ít chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến hơn so với người phụ nữ Bắc Bộ và Trung Bộ, người phụ nữ Nam Bộ vẫn giữ phẩm chất “phong nhã mà lịch thiệp”; lại “khéo về nữ hạnh, nữ công” lại có điều kiện để tự giải phóng, tự khẳng định tài năng và bản lĩnh của mình, và chính vì lẽ đó, người phụ nữ Nam Bộ luôn nhận đươc sự tôn trọng của cộng đồng xã hội và gia đình. “Họ chính là một phần không thể thiếu của lịch sử khai phá và phát triển vùng đất cực Nam của Tổ Quốc” (Võ Thị Thanh Tùng, 2013).
      Chính sự tôn vinh sức lao động sáng tạo cả nam lẫn nữ của bao thế hệ người “khai cương lập địa” thuộc nhiều dòng họ Việt và cả “Việt gốc Hoa” (Châu, Cổ, Đào, Đặng, Đỗ, Giang, Hà, Hạ, Hồ, Hồng, Huỳnh, Khương, Lâm, Lê, Lưu, Lý, Mạc, Ngô, Nguyễn, Phạm, Phan, Quách, Tạ, Thái, Tống, Trần, Trịnh, Trương, Từ, Văn, Viên, Vũ (Võ) .v.v…) và cả “Việt gốc Khmer” (Thạch Duổng) được ban Quốc tính “Nguyễn Văn Tồn”, thế hệ nối thế hệ khai hoang vỡ hóa, đào kênh mương, mở đường xá, dựng làng lập ấp, xây dựng chợ búa, tiền cảnh, chùa đình .v.v… biến cả miền đất rừng Phương Nam “quạnh hiu, hoang mạc… không có vật gì thuộc về sự sống” (Alexandre de Rhodes, thế kỷ 16) và “toàn là những đám cây rừng hoang vu dầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm” (Lê Quý Đôn, cuối thế kỷ 18) thành các “Đông Phố”, “Đại Phố”, “Hà Tiên Trấn” sầm uốt phồn vinh vang bóng thời Trung và Cận đại. Cũng từ các mảnh đất “Biên Hùng” – Nam Bộ ấy đã sản sinh ra “nhiều người trung dũng, khí tiết, trọng nghĩa, khinh tài, giới Phụ nữ cũng vậy” (Trịnh Hoài Đức, 1820); “Sĩ phu ham đọc sách… nông dân siêng năng, người đủ bốn phương” (Đại Nam nhất thống chí); “Dám làm ăn lớn” (Lê Quý Đôn); “Lòng nhân đạo có thừa” (Christophe Bori); “Hiếu khách hơn bất kỳ nơi nào khác ở Châu Á” (Finlayson) .v.v… HÀO KHÍ NAM BỘ và tính trội của “hành vi tôn giáo” trọng “tính nữ” cũng là những minh chứng một thời của “Những người Việt xưa rời quê hương phương Bắc đi mở nước tạo nên những nếp sống văn hóa mang tính hòa hợp văn hóa, giống xưa mà cũng khác xưa” (Phạm Huy Thông, 1985).


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Abramova, Z.A. 1967:“Palaeolithic Art in the USSR”, Arctic Anthropology, 4(2): 1-179.
2. Bahn, P.G. ed. 1995: 100 great Archaeological Discoveries. New Yrok: Barnes & Noble Books.
3. Bahn, P.G. – Vertut, J. 1988:Images of the Ice Age. Leisester: Windward/New York: Facts on File.
4. Bhattacharya, D.K. 1977:Palaeolithic Europe: A Summary of Some Important Finds with Special Reflerence to Central Europe. Atlantic Highlands: Humanities Press.
5. Cao Văn Sáu 2005:“Vợ Trương Định, một liệt nữ bốn lần vươn cao trong số phận”, Nam Bộ xưa và nay, Nxb. TP.HCM: tr.173 - 176.
6. Choi Byung Wood 2011:Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
7. Đỗ Văn Ninh 1970:“Khai quật một ngôi mộ hợp chất ở Vân Cát (Nam Hà)”, Khảo cổ học, số 5-6:144-151;
8. Đỗ Văn Ninh 1971:“Ý kiến bổ sung về loại mộ hợp chất”,Khảo cổ học, số 11-12:139-143.
9. Hội Văn học nghệ thuật Châu Đốc 2006:Lịch sử Miếu bà Chúa Xứ Núi Sam, Châu Đốc-An Giang.
10. Huỳnh Minh 1972:Tây Ninh xưa và nay, Sài Gòn.
11. Kim, B.M., ed. 1982: Megalithic Cultures in Asia, Monograph, N.2. Hayyang University Press, Seoul.
12. Kim, J.B. 1973:Distribution of the Oviparous myth (Japanese) – Han, 13.
13. Klein, Richard G. 1973:Ice-Age Hunters of the Ukraine. Chcago: University of Chcago Press.
14. Kozlowski, Janusz K. 1992:L’Art de la Préhistoireen Europe Orientale. Paris: CNRS.
15. Lê Quý Đôn 1997:Phủ Biên tạp lục – Lê Quý Đôn toàn tập, tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội.
16. Malleret 1959-1963:L’Archéologie du delta du Mékong, Tome I-IV, Paris.
17. Mellart, James 1967:Catal Huyuk. New York: McGraw-Hill.
18. Ngô Đức Thịnh cb. 1996-1997:Đạo Mẫu ở Việt Nam, 2 tập, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
19. Nguyễn Đức Toàn 1994:“Quan hệ Champa Việt trong lịch sử qua tín ngưỡng dân gian”, Dân tộc học, số 4: 55.
20. Nguyễn Hữu Thông, cb. 2000. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung, Nxb. Thuận Hóa.
21. Perry, W.Y. 1927:The Chidren of the Sun, 2nd edition. London.
22. Phạm Đức Mạnh 2001:“Mộ hợp chất ở Gia Định và Nam Bộ xưa”, Nam Bộ Đất & Người, tập 1, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh:158-187;
23. Phạm Đức Mạnh 2006:“Mộ hợp chất trong khuôn viên Viện Pasteur (Quận 3, Tp.HCM)”, Khảo cổ học, số 5:5 6-75.
24. Phạm Đức Mạnh 2007:“Đền thờ và mộ táng “Danh sĩ xứ Dừa” thời cận đại”, Khảo cổ học, số 2: 130-142.
25. Phạm Đức Mạnh 2011:“Tục thờ “Bàn đá” (Dolmen) thời cổ đại ở Hà Nội trong bình diện di sản văn hóa Cự thạch Việt Nam và Thế giới”, Tập san KHXH&NVTrường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, số 50: 14-22 &số 51:15-19.
26. Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Chiến Thắng 2013:“Bia chí – nguồn sử liệu quý cần gìn giữ ở Lăng Ông Biên Hòa (Đồng Nai)”, Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121): 51-57.
27. Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Hồng Ân 2010:“Mộ hợp chất Cầu Xéo (Long Thành – Đồng Nai) – 2011. Mộ hợp chất Cầu Xéo (Long Thành – Đồng Nai)”, Khảo cổ học, số 6:44-62.
28. Phạm Đức Mạnh, Trần Hồng Liên 1997:“Kết quả khảo sát sơ bộ đình Nam Tiến (Tp. Hồ Chí Minh)”, Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam – Nxb. KHXH, Hà Nội:528-542.
29. Phạm Huy Thông 1985:“Khảo cổ học ở các tỉnh phía Nam 10 năm sau ngày giải phóng”, Khảo cổ học, số 3:1.
30. Phạm Hữu Công, Ngô Quang Láng 2013:“Phát hiện di vật của Thoại Ngọc Hầu và phu nhân tại Lăng Thoại Ngọc Hầu – Núi Sam (Châu Đốc, An Giang)”, Nam Bộ đất & Người tập 9, Nxb. ĐHQG-HCM:328.
31. Soffer, Olga 1985:The Upper Palaeolithic of the Central Russian Plain. Orlando: Academic Press.
32. Sơn Nam 1985:Đồng bằng sông Cửu Long-nét sinh hoạt xưa. Nxb. Tp. Hồ Chí Minh;
33. Sơn Nam 1987:Lịch sử An Giang. Nxb. Tổng hợp An Giang;
34. Sơn Nam 1992:Đình miễu và lễ hội dân gian, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
35. Taylor, Philip 2004:Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam.
36. Trịnh Hoài Đức 1820:Gia Định thành thông trí (bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo). Nha Văn hóa, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách xuất bản, Sài Gòn: 1972.
37. UBND tỉnh An Giang 2007:Địa chí An Giang, tập 2, An Giang.
38. UBKHXHVN 1971:Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội.
39. Võ Thị Thanh Tùng 2013:“Chân dung con người trong Du ký viết về Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX”,Tập san KHXH&NV Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, số 60:97-105.
40. http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/241/0/3206/Hoi_thao_quoc_te_khoa_hoc_Van_hoa_tho_Nu_than_Mau_o_Viet_Nam_va_Chau_A_Ban_sac_va_gia_tri_
41. http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/244/0/3408/Tin_nguong_tho_Mau_o_mien_Trung_Viet_Nam
42. http://m.nguoiduatin.vn/cai-chet-day-bi-thuong-cua-nang-huong-ben-nui-ba-den-a122206.html
43. http://music.vietfun.com/trview.php?cat=11&ID=971
44. http://tamlinhviet.org/threads/truy%E1%BB%81n-thuy%E1%BA%BFt-v%C3%A0-huy%E1%BB%81n-tho%E1%BA%Ali-v%E1%BB%81n-b%C3%A0-ch%C3%Baa-x%E1%BB%A9-ch%C3%A2u-%C4%90%E1%BB%91-angiang.1429/
45. http://truonggiang2k.blogspot.com/p/ao-tho-mau.html
46. http://vi.wikipedia.org/wiki/Maria).http://truonggiang2k.blogspot.com/p/ao-tho-mau.html
47. http://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%BAi_B%C3%A0_%C4%90en
48. http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng_th%E1%BB%9D_M%E1%BA%ABu_Vi%E1%BB%87t_Nam
49. http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%E1%BB%A3ng_th%E1%BA%A7n_V%E1%BB%87_N%E1%BB%AF
50. http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%83_lo%E1%BA%A1i:M%E1%BA%B9_Maria
51. http://m.aseantraveller.net/tin-tuc/510_le-hoi-nui-ba-den-tay-ninh.html
52. http://vietngu.caodai.net/index.php/bibien-kho-a-dch-thut/479-truyn-thuyt-v-miu-ba-chua-x
53. http://vov.vn/MEDIA/Tin-nguong-tho-mau-va-net-dep-kien-truc-Phu-Giay/307307.vov
54. http://www.baomoi.com/Phu-Tay-Ho-va-tin-nguong-tho-Mau-Lieu-Hanh/137/12693256.epi
55. http://www.baotangphunu.com/bo-suu-tap/bo-suu-tap-ve-tin-nguong-tho-ba
56. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/10/051021_goddessbook.shtml
57. https://www.facebook.com/dacsanquehuongtayninh/posts/606577502727999
58. https://www.google.com.vn/search?q=t%C3%ADn+ng%C6%B0%E1%BB%A1ng+th%E1%BB%9D+b%C3%A0+ch%C3%BAa+x%E1%BB%A9&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ei=ZqglU6zUF4iTiQfpj4CIAg&ved=0CEYQsAQ&biw=1024&bih=629
59. http://www.hoalinhthoai.com/news/detail/news-2039/Tho-Mau-mot-dac-trung-van-hoa-Viet.html
60. http://www.vietnamplus.vn/tho-mau-mot-tin-nguong-dan-gian-thuan-viet/125363.vnp
61. http://www.vietpoem.com/vn/vn_storyview.aspx?id=48efc683-0a15-4b63-a418-2fe3fca17bef&catid=5
62. http://www.vntravellive.com/news/tintuc-1339.html
63. http://vi.wikipedia.org/wiki/Tho%E1%BA%Ali_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A7u


Bài được in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ bản sắc và giá trị”, trang 32 – 46, Tp. HCM & Long Xuyên, tháng 4 - 2014.


LẠM BÀN VỀ NIÊN BIỂU TỤC THỜ MẪU & CÁ TÍNH “NAM BỘ” TRONG DI SẢN ĐÌNH MIẾU - LĂNG TẨM NỮ QUÝ TỘC NAM BỘ THỜI CẬN ĐẠI
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.